Top 5 máy bay chiến đấu xuất sắc nhất mọi thời đại

Thực tế là những vương quốc mua hoặc sản xuất máy bay chiến đấu đều nhằm mục đích xử lý những yếu tố kế hoạch vương quốc và do đó những chiến đấu cơ này được nhìn nhận theo năng lực của nó trong xử lý hoặc cải tổ yếu tố trên. Điều gì đã khiến cho 5 loại máy bay chiến đấu dưới đây được xếp vào hàng ngũ những chiến đấu cơ xuất sắc nhất mọi thời đại ? Lời giải đáp cho câu hỏi nhờ vào vào những thông số kỹ thuật về độ an toàn và đáng tin cậy và ngân sách. Và dưới đây là câu vấn đáp :

Spad S.XIII

Ngay trong thời kỳ đầu của ngành hàng không quân sự, cuộc cách mạng công nghệ đã phát triển với một tốc độ chóng mặt khiến cho các máy bay chiến đấu nhanh chóng trở nên lỗi thời trong thời gian tính bằng năm. Vì vậy, trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, các kỹ sư ở Anh, Pháp và Italy đã làm việc một cách không mệt mỏi, chế tạo ra những thế hệ máy bay mới mỗi năm để ném vào cuộc chiến. Trong bối cảnh này, chọn một máy bay chiến đấu chiếm ưu thế thực sự là rất khó khăn.

Tuy nhiên, Spad S.XIII nổi bật về các tính năng chiến đấu và dễ dàng sản xuất.

Spad S.XIII là loại máy bay tiêm kích hai tầng cánh của Pháp, do hãng Société Pour L’Aviation et ses Dérivés (Spad) phát triển từ loại Spad S.VII. Nó là một trong những máy bay chiến đấu mạch nhất trong những lần tham gia không chiến thời kỳ đầu. Đây cũng là chiếc máy bay được sản xuất hàng loạt với số lượng lớn khoảng 8.472 chiếc và hơn 10.000 đơn đặt hàng phải hủy bỏ do chiến tranh kết thúc.

Những chiếc Spad S.XII đời trước đã “làm mưa làm gió” trên bầu trời vào khoảng thời gian 1916. Sau đó, nó đã bị Đức vượt mặt với loại máy bay chiến đấu tối tân hơn. Cuối cùng đội ngũ thiết kế của Pháp đã cho ra đời phiên bản Spad S.XIII. Ngoài việc nâng cấp động cơ công suất lớn và tốt hơn phiên bản cũ, Spad S.XIII còn được trang bị một khẩu pháo 37 mm bắn qua trục cánh quạt, giúp chiếc chiến đấu cơ trở nên linh hoạt và thành đối thủ đáng gờm của các loại máy bay thời điểm đó.

S.XIII đã không chỉ được biên chế vào các phi đội của Pháp mà còn phục vụ cả trong các đơn vị không quân của các nước đồng minh và tham gia có hiệu quả trong trận tổng tấn công Ludendorff (trận chiến giữa quân đồng minh và Đức Quốc xã diễn ra năm 1918). Sau chiến tranh, nó vẫn được sử dụng tại Pháp, Mỹ và hàng chục quốc gia khác trong nhiều năm. Spad X.III có tầm quan trọng lớn trong việc đề ra các tiêu chuẩn chiến đấu đối với những máy bay thế hệ sau này cần phải có.

Grumman F6F Hellcat

Năm 1943, nước Mỹ cần một “chiến binh” mạnh mẽ, đủ sức để chiến đấu xa căn cứ nhưng cũng phải đủ nhanh và mạnh để đánh bại máy bay chiến đấu tốt nhất của Nhật Bản lúc bấy giờ. Hellcat đã đáp ứng được yêu cầu đó.

Mặc dù F6F Hellcat không thể so sánh với những máy bay như Spitfire, P – 51 hay Bf 109 về nhiều đặc tính cơ bản, nhưng ưu điểm nổi bật nhất của chiếc máy bay này là dễ dàng cất cánh từ tàu sân bay. Điều này khiến nó cùng với máy bay Vought F4U Corsair được coi là máy bay tiêm kích chủ lực trang bị cho tàu sân bay của Hải quân Mỹ vào nửa sau của Chiến tranh thế giới thứ hai.

Được đưa vào tham chiến từ tháng 9/1943, tỷ lệ giành chiến thắng của Hellcat khá cao, 75% thắng lợi trong các trận chiến tại Thái Bình Dương. Phi công Mỹ lái máy bay F6F xuất sắc nhất lúc bấy giờ là David McCampbell, đã bắn rơi 9 máy bay Nhật Bản trong một ngày. Do được trang bị vũ khí hạng nặng nên nó có khả năng phá hủy đáng kể các máy bay của đối phương. Hellcat là kiểu máy bay thành công nhất trong lịch sử hải quân Mỹ, tiêu diệt gần 5.200 máy bay địch. Sau chiến tranh, Hellcat nhanh chóng được rút khỏi tiền tuyến và chính thức “nghỉ hưu” khỏi vai trò tiêm kích bay đêm trong các phi đội hỗn hợp vào năm 1954.

Messerschmitt Me-262 Swallow

Vào giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai, Đức đã trở thành mục tiêu tấn công bằng các loại máy bay hạng nặng của quân đồng minh. Trong cơn tuyệt vọng, Đức Quốc xã đã thành lập một đơn vị máy bay chiến đấu Me-262 với hy vọng sẽ tạm thời ngăn chặn các cuộc không kích của Anh và Mỹ.

Messerschmitt Me-262 Swallow .

Cách tiếp cận của Me-262 là từ đằng sau và độ cao lớn hơn máy bay ném bom của đối phương, sau đó lao xuống nã pháo 30 mm trong khoảng cánh 600 m. Chiến thuật này tỏ ra hiệu quả nhưng nó lại được đề xuất quá muộn. Tuy nhiên, nó đã trở thành tiêu chuẩn trong những trận đánh chống lại máy bay ném bom cho đến khi tên lửa có điều khiển ra đời.

Chiếc Me-262 thử nghiệm đầu tiên đã được hoàn tất trong năm 1939. Nhưng do chi phí quá cao và do các tướng Đức Quốc xã cho rằng họ có thể giành chiến thắng bằng các loại máy bay cánh quạt hiện có nên Me-262 không nằm trong diện vũ khí ưu tiên của quân đội Đức Quốc xã.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Me-262 – một trong những “vũ khí thần kỳ” của Đức Quốc xã – đã trở thành chiến lợi phẩm của quân đội Mỹ. Hiện một chiếc máy bay tiêm kích phản lực đánh chặn Me-262 được trang bị radar vẫn còn được trưng bày ở một sân bay của Hải quân Mỹ tại bang Washington.

Dù không đảo ngược được cục diện chiến tranh, nhưng Me-262 vẫn được lịch sử công nhận là loại máy bay tiêm kích phản lực đầu tiên trên thế giới, khởi đầu cho những thế hệ máy bay chiến đấu phản lực sau này.

Mikoyan – Gurevich MiG-21 “Fishbed”

Ra đời trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Mikoyan – Gurevich MiG-21 (tên ký hiệu của NATO: Fishbed) là một máy bay tiêm kích phản lực, được phòng thiết kế Mikoyan tại Liên bang Xô viết chế tạo. Hơn 50 quốc gia trên 4 lục địa đã sử dụng loại máy bay này và hiện nay MiG-21 vẫn đang hoạt động trong lực lượng không quân nhiều quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, Rumani… sau 50 năm khi nó bay lần đầu tiên.

Source: https://iseo1.com
Category: Review

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.