PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC(QLNN) ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC(QLNN) ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (135.96 KB, 9 trang )

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC(QLNN) ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP
1. Sự cần thiết khách quan của QLNN đối với doanh nghiệp
Sự cần thiết của QLNN đối với DN cũng chính là sự cần thiết phải QLNN về kinh
tế, như đã nêu ở phần chung. Ngoài ra, có một số lý do đặc thù đối với doanh nghiệp như
sau:
1.1 Để tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các doanh nhân phải giải
quyết hang loạt các vấn đề, trong đó có những vần đề mà từng doanh nhân riêng biệt
không đủ khả năng giải quyết.
Nhà nước bằng hoạt động của mình giúp các doanh nhân giải quyết các vấn đề sản xuất
kinh doanh tầm vĩ mô, tìm ra những nhu cầu của họ để đáp ứng. Tuy nhu cầu được đặt ra
có thể rất đa dạng, song suy cho cùng, đó là các vấn đề thuộc về ý chí, tri thức, vốn liếng,
phương hướng chính có liên quan đến kinh tế.
1.2 Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nhân tham gia nhiều mối
quan hệ lợi ích. Các quan hệ này có khả năng dẫn tới xung đột mà các chỉ có nhà
nước mới có khả năng xử lý các xung đột đó.
Mục tiêu của sản xuất kinh doanh là kiếm lời. Do đó, mâu thuẫn giữa các doanh nhân với
nhau và các đối tác khác có quan hệ với các doanh nhân, là điều không thể tránh khỏi.
Thường có các quan hệ lợi ích sau đây.
– Quan hệ giữa các doanh nhân với nhau. Thuộc các đối tác này có nhiều nội dung quan
hệ cụ thể: Quan hệ hàng – tiền với rất nhiều chi tiết liên quan; Quan hệ cổ phần cổ phiếu
trong việc chia lời lãi; Quan hệ tranh chấp tài nguyên môi trường khi hoạt động liền kề
bên nhau….
– Quan hệ giữa doanh nhân với người lao động. Quan hệ này cũng có nhiều nội dung cụ
thể, nhưng tựu chung là quan hệ lao động, liên quan đến tiều công, điều kiện làm việc,
thái độ đối xử, sự tuân thủ hợp đồng và thoả ước lao động của đôi bên, ….
– Quan hệ giữa doanh nhân với xã hội nói chung, trong đó có quan hệ giữa doanh nhân
với các công dân khác, với tư cách cá nhân, và quan hệ giữa doanh nhân với xã hội, với
tư cách là một tập thể, một cộng đồng, có nhà nước làm đại biểu. Quan hệ này có nhiều
nội dung cụ thể, như quan hệ liên quan đến môi trường, đến nguồn tài nguyên và mọi loại
công dân, đến chất lượng và sự an toàn cho cuộc sống của người tiêu dùng, sản phẩm khi

bán cho người tiêu dùng đến tiềm lực quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội
mà hoạt động kinh tế có thể ảnh hưởng tới….
2. Phương hướng can thiệp của nhà nước vào quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
2.1 Xét theo mục đích can thiệp có 3 hướng lớn sau đây:
– Can thiệp để ngăn chặn, hạn chế các tác hại xuất phát từ hoạt động của các doanh nhân
và doanh nghiệp.

– Can thiệp để giúp đỡ các doanh nhân và doanh nghiệp sao cho họ có thể thành đạt trong
sản xuất kinh doanh, nhờ đó mà quốc gia quốc gia cũng hùng mạnh theo, theo tinh thần
“dân giàu, nước mạnh”.
– Can thiệp để bảo vệ lợi ích của công dân, của cộng đồng.
2.2 Xét theo nội dung hoạt động của doanh nghiệp, có một số hướng lớn sau
đây:
– Quyết định hình thức sở hữu của doanh nghiệp, mà nội dung cụ thể là cho phép hay
không cho phép có hình thức sở hữu này hoặc hình thức sở hữu kia, cho phép một loại cụ
thể sở hữu nào đó được, hoặc không được kinh doanh trên lĩnh vực này hoặc lĩnh vực
khác vì lý do chính trị, kinh tế, xã hội và an ninh quốc gia.
Sự can thiệp này là cần thiết, vì nó liên quan đến hiệu quả của nền kinh tế đó đạt được sự
phù hợp hay không phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Sự can thiệp
này là quan trọng vì vấn đề để sở hữu chính là vấn đề chính trị của kinh tế, liên quan đến
cơ sở chính trị của nhà nước.
– Định hướng tổ chức quản lý của nội bộ doanh nghiệp, định hướng điều lệ doanh nghiệp,
ban hành điều lệ mẫu, quy định các tiêu chuẩn đối với từng loại doanh nghiệp về vốn, về
nhân sự, về hệ thống sổ sách, biểu mẫu thống kê, kế toán, …
Sự quản lý trên đây là cần thiết xét từ cả hai phía: Nhà nước và doanh nhân. Với doanh
nhân, đó là những chỉ dẫn chính đáng của Nhà nước để họ đủ khả năng tồn tại và phát
triển trên thương trường, bảo đảm cho nội bộ họ sống tốt với nhau, từ đó mà sản xuất,
kinh doanh phát đạt. Với Nhà nước, đó là việc đặt trước những tiền đề, những kênh giao

tiếp quản lý, từ đó Nhà nước có thể kiểm soát được các hoạt động của doanh nghiệp một
các có hiệu lực.
– Định hướng chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong quản trị kinh doanh, doanh nhân và bộ máy giúp việc bao giờ cũng phải tìm câu trả
lời cho câu hỏi: sản xuất hoặc làm dịch vụ gì? Việc trả lời câu hỏi này có ý nghĩa lớn lao
đối với cả Nhà nước và doanh nhân. Trên thực tế, không phải doanh nhân nào cũng có
khả năng tìm được lời giải tối ưu. Vì vậy, Nhà nước phải can thiệp để một mặt ngăn ngừa
việc sản xuất những sản phẩm, hoặc tạo ra các dịch vụ bất lợi cho xã hội, mặt khác hỗ trợ
doanh nhân tìm được phương hướng sản xuất kinh doanh lâu bền, có doanh lợi cao và
tránh được rủi ro.
– Can thiệp vào việc thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ, cụ thể là:
+ Trong việc sử dụng tài nguyên và công sản vào các quá trình kinh tế, Nhà nước cần
phải ngăn chặn các hành vi trộm cắp tài nguyên; các hành vi khai thác một cách lãng phí
các nguồn tài nguyên, các hành vi sử dụng tài nguyên vào các hoạt động sản xuất kinh
doanh không đem lại hiểu quả cao; các hành vi lạm dụng, phá hoại, trốn phí khi sử dụng
các công sản, nhằm bảo toàn chúng.
+ Trong việc gây ô nhiễm môi trường, Nhà nước phải quan tâm đến các hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp có liên quan đế việc làm ô nhiễm môi trường. Chẳng
hạn, việc lựa chọn nguyên liệu đưa vào sản xuất sao cho ít gây ô nhiễm; việc áp dụng các
phương pháp tiêu huỷ chất thải; việc bố trí địa thế doanh nghiệp sao cho ít ảnh hưởng đến
dân cư và các loại sản xuất xung quanh…

+ Trong phân bố địa điểm sản xuất chung của doanh nghiệp cũng như phân bố các bộ
phận trong nội bộ doanh nghiệp. Trên thực tế, một số địa điểm được các doanh nghiệp
lựa chọn đem lại lợi thể cho doanh nghiệp, nhưng lại gây ra bất lợi chung cho xã hội.
Trên giác độ từng doanh nghiệp, việc bố trí nơi làm việc có thể gây ra ảnh hưởng xấu tới
sức khoẻ người lao động.
– Nhà nước quản lý vấn đề thống nhất hoá sản phẩm, tiêu chuẩn hoá sản phẩm và bản
quyền kiểu dáng sản phẩm, vấn đè này có ý nghĩa trên nhiều mặt. Đối với người tiêu

dùng, đây là cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng. Đối với người sáng chế, đây
là cơ sở để chống mọi hành vi ăn cắp bản quyền sở hữu trí tuệ. Đối với xã hội nói chung,
đây là biện pháp để đảm bảo cho quá trình chuyên môn hoá được duy trì và phát triển.
– Nhà nước định hướng sự lựa chọn đối tác quan hệ của các doanh nhân, đặc biệt là các
quan hệ với người nước ngoài để ngăn ngừa được các tác động ngoại xâm về mọi phương
diện: văn hoá, chính trị, an ninh, dịch bệnh… núp dưới con người và hàng hoá nhập khẩu,
ngăn ngừa mọi sự rò rỉ chất xám kết tinh trong hàng hoá, thông tin kinh tế kỹ thuật…ra
nước ngoài.
– Nhà nước can thiệp vào các hoạt động tự bảo vệ của các doanh nghiệp nhằm giúp họ
chống lại mọi đe doạ về tài sản và tính mạng, cũng như các bất trắc, rủi ro trong hoạt
động sản xuất kinh doanh do thiên tai, địch hoạ hoặc bất kỳ sự đe doạ nào.
Đối với mọi doanh nhân, đây là mối quan tâm cực kỳ to lớn mà họ không thể tự lo liệu
nổi. Chỉ có Nhà nước mới đủ khả năng bảo vệ các doanh nhân cở các mặt nói trên.
3. Nội dung quản lý nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp
3.1. Xây dựng và ban hành các luật có liên quan đến hoạt động kinh tế nói
chung, doanh nghiệp nói riêng
Nhà nước xây dựng hai loại pháp luật để điều chỉnh các doanh nghiệp. Đó là:
– Luật Tổ chức các loại hình doanh nghiệp, như Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật
Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, …theo đó, các chủ thể sản xuất kinh doanh có thể ra đời.
– Luật quy định các mặt hoạt động của các doanh nghiệp, như Luật Tài nguyên và Môi
trường, Khoa học và Công nghệ, Lao động, Tài chính…để điều chỉnh các hành vi của
doanh nhân khi hoạt động của họ có liên quan đến các yếu tố nói trên.
3.2. Tổ chức thực hiện pháp luật và các định hướng sản xuất kinh doanh của Nhà nước,
bao gồm việc:
– Tuyên truyền, phổ biến pháp luật và kế hoạch, dự án đầu tư.
– Khuếch trương các hướng đầu tư.
– Tìm hiểu khả năng, nguyện vọng, khó khăn của công nhân trong việc hưởng ứng pháp
luật và các dự án đầu tư mà Nhà nước kêu gọi; định hướng khuyến khích, hỗ trợ đầu tư
đói với các đối tượng mà Nhà nước đặt sự lưu ý.
– Tư vấn đầu tư đối với các đối tượng có khả năng, nguyện vọng đầu tư.

– Xét duyệt và cấp giấy phép sản xuất kinh doanh, làm các thủ tục khác để đưa doanh
nghiệp và doanh nhân vào hoạt động trong nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của
Nhà nước.

3.3 Xây dựng các doanh nghiệp Nhà nước trong những ngành và lĩnh vực
Nội dung này bao gồm hàng loạt công vụ đó là:
– Sáng kiến đầu tư và xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật cho các dự án xây dựng
doanh nghiệp Nhà nước mới, tổ chức lại, gọi thêm vốn,…
– Thành lập Hội đồng thẩm định và tiến hành thẩm định về các dự án đã đệ trình.
– Thủ trưởng hành chính có thẩm quyền (tuỳ theo luật định) phê chuẩn.
– Bộ phận thực thi dự án tiến hành xây dựng cơ bản theo trình tự quản lý xây dựng cơ bản
theo luật định.
3.4. Thực hiện các hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp, doanh nhân trong quá
trình sản xuất kinh doanh
Để thực hiện nội dung quản lý này, Nhà nước các cấp phải tiến hành hàng loạt công vụ
như:
– Tạo nguồn vốn đầu tư ưu đãi cho các chương trình kinh tế trọng điểm của Nhà nước,
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong các ngành, lĩnh vực mà Nhà nước khuyến
khích.
– Xây dựng và tiến hành bảo hiểm sản xuất kinh doanh cho những doanh nghiệp thực
hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh theo định hướng của Nhà nước và thực hiện các
quy định của bảo hiểm.
– Thực hiện miễm giảm thuế cho những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh theo định
hướng ưu tiên của Nhà nước.
– Chuyển giao đến các nhà kinh doanh những thông tin chính trị, thời sự quan trọng có
giá trị trong sản xuất kinh doanh để họ tham khảo.
– Thực hiện chương trình bồi dưỡng kiến thức quản trị kinh doanh, giúp các doanh nghiệp
hiện đại hoá đội ngữ viên chức nghiệp vụ quản trị kinh doanh.
– Mở ra các trung tâm thông tin, các triểm lãm thành tựu kinh tế kỹ thuật để tạo môi

trường cho các doanh nghiệp giao tiếp và bắt mối sản xuất kinh doanh với nhau.
– Thực hiện các hỗ trợ pháp lý, đặc biệt là hỗ trợ tư pháp quốc tế đối với các doanh
nghiệp kinh doanh trên thị trường quốc tế.
– Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để tạo điều kiện cho sự hình thành đồng bộ các loại thị
trường. Đồng thời quản lý các loại thị trường đó để các doanh nhân có được môi trường
thuận lợi trong giao lưu kinh tế: thị trường hoá thông thường, thị trường vốn, thị trường
sức lao động, thị trường khoa học công nghệ, thị trường thông tin, thị trường chất xám,
…Nhà nước bảo đảm một môi trường thị trường chân thực để giúp các doanh nhân không
bị lừa gạt trên thị trường đó.
3.5. Nhà nước thực thi sự kiểm tra, giám sát tuân thủ pháp luật của các doanh
nhân trên thương trường
– Kiểm tra tính hợp pháp đối với sự tồn tại doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp ra đời đều
phải có giấy phép. Giấy phép chỉ cấp cho những doanh nhân với doanh nghiệp đủ điều

kiện. Việc kiểm tra này nhằm loại trừ các doanh nghiệp ra đời không đăng ký hoặc không
đủ điều kiện mặc dù đã được cấp giấy phép.
– Kiểm tra để xác định khả năng tiếp tục tồn tại của doanh nghiệp. Khi các doanh nhân
đăng ký kinh doanh, họ phải có đủ điều kiện mới được Nhà nước cấp giấy phép kinh
doanh. Do đó trong quá trình hoạt động, nếu những điều kiện ấy không được đảm bảo thì
doanh nghiệp đó phải bị đình chỉ hoạt động. Để kịp thời phát hiện được dấu hiệu sa sút
khả năng, biểu hiện của sự phá sản, để có quyết định phá sản doanh nghiệp, Nhà nước
phải tiến hành kiểm tra.
– Kiểm tra định kỳ theo chế độ nhằm đảm bảo nhắc nhở các doanh nghiệp thường xuyên
chấp hành pháp luật. Các đối tượng kiểm tra thường là về vấn đề an toàn lao động, phòng
chống cháy, về chấp hành các quy định về an toàn vệ sinh môi trường, về kiểm toán
nhằm bảo đảm chế độ ghi chép ban đầu đúng quy định của chế độ kế toán Nhà nước, …
– Thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, như có hiện tượng trốn
lậu thuế, xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản công dân, kinh doanh các mặt
hàng quốc cấm, …

– Thanh tra, kiểm tra khi có đơn thư khiếu tố.
3.6 Nhà nước thực hiện thu lợi ích công từ hoạt động của các doanh nghiệp
Thuộc loại công vụ chung này có hai loại công vụ cụ thể là:
– Thực hiện quyền thu đối với mọi loại doanh nghiệp.
– Thực hiện quyền thu đối với doanh nghiệp nhà nước với tư cách người chủ sở hữu.
4. Quản lý nhà nước đối với DNNN
4.1 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các dự án phát triển hệ thống
DNNN
Đây là bước mở đầu của toàn bộ quá trình quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà
nước. Việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các dự án phát triển hệ thống
doanh nghiệp nhà nước phải đặt trong mối quan hệ với tổng thể chiến lược và quy hoạch,
kế hoạch phát triển toàn bộ hệ thống doanh nghiệp chung của cả nước, của từng ngành và
từng vùng lãnh thổ, vì vậy phải đưa ra được:
– Những chỉ tiêu thể hiện nhiệm vụ kinh tế mà các doanh nghiệp nhà nước phải đảm
nhiệm;
– Mô hình tổng thể lực lượng doanh nghiệp nhà nước cần có để đảm nhiệm những nhiệm
vụ nói trên được thể hiện thành các dự án doanh nghiệp cụ thể;
– Phần tăng giảm lực lượng doanh nghiệp nhà nước so với mô hình trên, bao gồm việc
xây dựng và cắt giảm những doanh nghiệp nhà nước mới, những doanh nghiệp nhà nước
không còn tồn tại.
Đối với việc xây dựng các doanh nghiệp nhà nước mới cần có dự án cụ thể. Đối với việc
cắt giảm các doanh nghiệp nhà nước hiện có, cần có kế hoạch, bước đi theo những
phương án chuyển sở hữu cụ thể.
Đối với cả hai trường hợp cần có sự tính toán, cân nhắc, thực hiện một cách thận trọng để
thu được kết quả mong muốn.

4.2 Hoàn thiện thể chế tổ chức và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà
nước
Việc bổ sung, đổi mới, hoàn thiện việc tổ chức quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp

nhà nước cho phù hợp với sự phát triển thường xuyên do thực hiện đề ra là một nội dung
không thể thiếu được. Điều này đòi hỏi sự theo dõi, phát hiện liên tục, kịp thời sự phát
triển của bản thân lực lượng doanh nghiệp nhà nước và sự phát triển của thị trường; tiến
hành đánh giá, tổng kết công tác quản lý nhà nước đối với vốn doanh nghiệp nhà nước.
Trên cơ sở đó, hoàn thiện thể chế tổ chức và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà
nước bằng các hình thức:
– Bổ sung và hoàn thiện hệ thốn pháp luật, thể chế, quy tắc nhằm điều chỉnh, tổ chức bộ
máy và quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp nhà nước.
– Bổ sung và hoàn thiện tổ chức bộ máy, phân công nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiẹm
giữa các cấp, các ngành trong bộ máy nhà nước để quản lý các doanh nghiệp nhà nước.
Để thực hiện việc hoàn thiện thể chế tổ chức và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
nhà nước, phải tiến hành nghiên cứu, tổng kết, đánh giá có phê phán hệ thống pháp luật,
thể chế hiện hành, nêu ra những điều cần thiết phải sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ. Trên cơ
sở đó, nêu ra những quy định mới phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của doanh
nghiệp và của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước.
4.3 Tổ chức đầu tư xây dựng doanh nhân nhà nước theo kế hoạch dự án đã
lập
Đây là bước tiếp theo sau khi xây dựng chiến lược, quy hoạch và các dự án phát triển cụ
thể, là hành động cụ thể biến các định hướng tiềm năng (còn nằm trên giấy) trở thành
hiện thực. Vì vậy, phải đạt mục tiêu và yêu cầu là biến các kế hoạch, dự án xây dựng
mới, xây dựng lại, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước thành hệ thống doanh
nghiệp nhà nước mới, hoặc thành công ty có cổ phần của nhà nước, công ty, hoặch doanh
nghiệp tư nhân … trên thực tế.
Đối với vấn đề này, có hai việc phải làm:
– Xây dựng mới, xây dựng lại, chỉnh đốn doanh nghiệp nhà nước. Toàn bộ hoạt động này
được tiến hành theo trình tự quản lý, đầu tư xây dựng cơ bản.
– Chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước. Toàn bộ hoạt động này được tiến hành theo
các quy định về tiến hành giải thể doanh nghiệp nhà nước và cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nước.
4.4 Bố trí nhân sự cho bộ máy quản trị các DNNN

Vấn đề nhân sự trong các doanh nghiệp nhà nước có vai trò hết sức quan trọng vì nó ảnh
hướng tới việc bảo toàn vốn của Nhà nước có trong doanh nghiệp. Vì vậy, để bảo đảm có
được bộ máy quản trị DNNN đáng tin cậy, công tác tổ chức nhân sự cho bộ máy quản trị
các DNNN phải giải quyết các vấn đề sau:
– Xây dựng điều lệ mẫu và phê chuâẩ điều lệ cụ thể của từng DNNN.

– Chọn và bổ nhiệm nhân sự cụ thể ở các vị trí quan trọng của DNNN như: Chủ tịch, Phó
Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Giám đốc DNNN theo sự phân cấp …
Chuẩn bị nguồn lực, lựa chọn và sử dụng, đào tạo và đào tạo lại.
– Giám sát người đại diện.
4.5 Khai thác, sử dụng các doanh nghiệp nhà nước vào việc thực hiện các
nhiệm vụ chính trị của Nhà nước
Trong quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước, việc khai thác sử dụng lực
lượng doanh nghiệp nhà nước như là đội quân chủ lực kinh tế, hoặch như là “vũ khí kinh
tế chủ yếu” của Nhà nước là nội dung cực kỳ quan trọng trong việc quản lý vĩ mô nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nó nói lên ý nghĩa đích thực của doanh nghiệp nhà
nước, mà nếu không làm được việc này thì việc xây dựng doanh nghiệp nhà nước là điều
vô nghĩa,
Khai thác, sử dụng các doanh nghiệp nhà nước vào việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị
của Nhà nước, thực chất là sử dụng các doanh nghiệp nhà nước vào việc thực hiện các
nhiệm vụ kinh tế của Nhà nước. Những nhiệm vụ kinh tế này cần cho nhà nước để thực
hiện một ý đồ phục vụ quốc phòng, nhiệm vụ kinh tế để thực hiện chương trình ổn định
phân bố dân cư, nhiệm vụ kinh tế để khống chế các hoạt động kinh tế của các lực lượng
kinh tế mà Nhà nước cần phải khống chế, nhiệm vụ sản xuất các hàng hoá, dịch vụ mà
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không được, khổng thể và không muốn làm để bổ
sung nguồn hàng hoá và dịch vụ xã hội.
Để khai thác, sử dụng các doanh nghiệp nhà nước vào việc thực hiện có hiệu quả nhiệm
vụ kinh tế của Nhà nước, cần phải thực hiện các công việc sau đây:
– Xác định các mục tiêu mà Nhà nước cần đạt được trong lĩnh vực kinh tế – xã hội mà

Nhà nước quan tâm.
– Xác định các hành vi kinh tế, có khả năng hoặc có tác dụng đối với thực hiện các mục
tiêu trên.
– Giao nhiệm vụ hoạt động kinh tế cho các doanh nghiệp nhà nước.
– Chuyển giao những phương tiện cần thiết, đủ để cho DNNN thực hiện các nhiệm vụ
được giao.
– Ban hành và áp dụng các biện pháp, chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với doanh nghiệp
nhà nước nhằm giúp các doanh nghiệp hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.
– Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các nhiệm vụ nói trên.
4.6 Quản lý vốn và lãi của vốn nhà nước trong các DNNN nói riêng và trong
tất cả các doanh nghiệp có vốn nhà nước nói chung
– Mục tiêu quản lý:
+ Bảo toàn và phát triển vốn nhà nước.
+ Nâng cao hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư của Nhà nước.
– Nội dung quản lý:
+ Kiểm kê tài sản và vốn của DNNN trong từng năm.

+ Thực hiện kiểm toán đối với các DNNN.
+ Thực hiện thanh tra tài chính khi cần thiết.
5. Quản lý nhà nước với các hợp tác xã
5.1 Xác định phương hướng phát triển các hợp tác xã
Xác định phương hướng là nội dung quan trọng hàng đầu trong quy trình quản lý nhà
nước đối với hợp tác xã. Tập thể hoá một cách nóng vội chẳng những kém hiệu quả mà
dân chủ còn bị vi phạm. Sự buông lỏng, để mặc cho người lao động tự lo, như đã có
trong thời gian dài vừa qua là chưa xác định đúng vai trò của kinh tế hợp tác xã.
Cần xuất phát từ hai yêu cầu sau đây để định hướng áp dụng hình thức doanh nghiệp tập
thể:
– Một là, ngành nghề đó có cần phải hợp tác lao động không? Hợp tác ở khâu nào?
– Hai là, người lao động đang hành nghề đó có nhu cầu, có nguyện vọng liên kết lại với

nhau nhưng lại chưa tìm ra giải pháp để thực hiện liên kết.
Quản lý nhà nước cần hướng vào việc nghiên cứu, phát hiện vấn đề và có biện pháp giải
quyết kịp thời.
5.2 Xây dựng các mô hình xí nghiệp tập thể với các loại ngành nghề khác
nhau, làm cơ sở cho công tác tuyên truyền vận động và hỗ trợ các tập thể lao động sau
này. Mô hình đó phải bao gồm hai mảng:
– Phương thức tổ chức lao động.
– Phương thức quản lý HTX mà trung tâm phải là phương án phân chia thành quả lao
động sản xuất.
Thông thường, phương thức trên đây được thể hiện trong điều lệ mẫu của hợp tác xã các
loại: từ thấp đến cao, từ ngành này sang ngành khác.
5.3 Tuyên truyền vận động, cố vấn bảo trợ để người lao động hình thành các tổ
chức lao động của họ
Có hai cách giúp đỡ của Nhà nước:
– Trực tiếp, đó là cách mà cán bộ nhà nước sử dụng một số phương tiện nhất định ban
đầu, đứng ra tập hợp lao động, tổ chức sản xuất kinh doanh, đưa tổ hợp vào vận hành trên
thương trường sao cho mọi người quen việc, tự lập được thì Nhà nước bàn giao cho tập
thể đỏ, rút người và có thể rút vốn ra, hoặc giao hẳn cho hợp tác xã.
Cách làm trực tiếp này rất thích dụng và cần thiết đối với những ngành nghề mà đối với
những ngành nghề đó, muốn tổ chức hợp tác xã đòi hỏi phải có khà năng tổ chức và cơ sở
vật chất nhất định. Nhiều nước trên thế giới đã áp dụng phương thức này không chỉ trong
việc gây dựng hợp tác xã mà còn cả trong việc xây dưng doanh nghiệp tư nhân. Cách làm
này được công dân rất gắn bó và ủng hộ.
– Gián tiếp, đó là cách giúp đỡ của nhà nước đối với một nhóm người, có ý chí và khả
năng, cố vấn cho họ để họ đứng ra tập hợp phường hội, hình thành tổ chức, cơ sở vật
chất, bộ máy quản trị.

5.4 Thường xuyên quan tâm tìm việc, tìm nguyên liệu hỗ trợ các hợp tác xã,
đặc biệt là các hợp tác xã có ý nghĩa chính trị, xã hội rõ rệt

Loại hình doanh nghiệp tập thể phải được Nhà nước coi trọng, bởi nó gần gũi với công
bằng, bác ái, là tổ chức của người nghèo nương tựa nhau. Hơn thê, hợp tác xã còn thường
là tổ chức của những người tàn tật, khiếm năng, thương bệnh binh. Do đó cần sự giúp đỡ
đặc biệt của Nhà nước. Sự giúp đỡ này là rất cần thiết không chỉ ở nước ta, một nước
XHCN, mà ở các quốc gia trên thế giới cũng vậy, bởi tính nhân đạo là cái bảo đảm ổn
định chính trị cho mọi quốc gia.
5.5 Thực hiện những hỗ trợ đặc biệt về vật chất kỹ thuật cho các doanh nghiệp
tập thể để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp tập thể, cần có chính sách thực hiện
công nghiệp hoá nông nghiệp, nghĩa là thúc đẩy kinh tế nông nghiệp và nông thôn phát
triển mạnh nhằm tạo ra nhiềm sản phẩm hàng hoá với chất lượng ngày càng tốt hơn. Để
nâng cao năng suất, hiệu suất, chất lượng hàng hoá nông nghiệp, nhà nước phải có chính
sách khuyến khích, đầu tư cho các doanh nghiệp tập thể theo những hướng đưa các công
nghệ tiến bộ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất, trước hết là các khâu giống, thực
hiện cơ giới hoá từng phần công việc.
5.6. Nhà nước tiến hành thực hiện thanh tra, kiểm tra các hoạt động của hợp
tác xã theo quy định của pháp luật
Chế biến nông, lâm, thuỷ sản ở nông thôn theo quy mô vừa và nhỏ tại các cụm công
nghiệp.
Khuyến khích phát triển nhiều ngành nghề truyền thống để tạo việc làm, giải quyết lượng
lao động dôi thừa, tăng thu nhập, phát triển các ngành nghề mới.
Nhà nước có những chính sách khuyến khích và thúc đẩy giải quyết vấn đề thị trường,
đối với các doanh nghiệp tập thể, ngoài thị trường nội địa, cần tiếp cận với thị trường các
nước trong khu vực và thế giới. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng để sản xuất mặt
hàng gì, sản xuất bao nhiêu, chất lượng thế nào, vì nhu cầu thị trường quyết định loại sản
phẩm, quy mô, tốc độ, bước đi của các doanh nghiệp tập thể.
Nhà nước tổ chức tốt công tác thông tin và thị trường trong nước cũng như thị trường thế
giới. Vấn đề này rất quan trọng vì nó giúp cho các nhà sản xuất, kinh doanh có thông tin
để có chiến lược phát triển doanh nghiệp trước mắt và lâu dài.
6. Nội dung QLNN đối với Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Nội dung phần này có thể tìm thấy trong phần kinh tế đối ngoại tiếp sau.

bán cho người tiêu dùng đến tiềm lực quốc phòng, bảo mật an ninh vương quốc, trật tự bảo đảm an toàn xã hộimà hoạt động giải trí kinh tế tài chính hoàn toàn có thể ảnh hưởng tác động tới …. 2. Phương hướng can thiệp của nhà nước vào quy trình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp. 2.1 Xét theo mục tiêu can thiệp có 3 hướng lớn sau đây : – Can thiệp để ngăn ngừa, hạn chế những tai hại xuất phát từ hoạt động giải trí của những doanh nhânvà doanh nghiệp. – Can thiệp để trợ giúp những người kinh doanh và doanh nghiệp sao cho họ hoàn toàn có thể thành đạt trongsản xuất kinh doanh thương mại, nhờ đó mà vương quốc vương quốc cũng hùng mạnh theo, theo niềm tin “ dân giàu, nước mạnh ”. – Can thiệp để bảo vệ quyền lợi của công dân, của hội đồng. 2.2 Xét theo nội dung hoạt động giải trí của doanh nghiệp, có 1 số ít hướng lớn sauđây : – Quyết định hình thức chiếm hữu của doanh nghiệp, mà nội dung đơn cử là được cho phép haykhông được cho phép có hình thức chiếm hữu này hoặc hình thức chiếm hữu kia, được cho phép một loại cụthể chiếm hữu nào đó được, hoặc không được kinh doanh thương mại trên nghành này hoặc lĩnh vựckhác vì nguyên do chính trị, kinh tế tài chính, xã hội và bảo mật an ninh vương quốc. Sự can thiệp này là thiết yếu, vì nó tương quan đến hiệu suất cao của nền kinh tế tài chính đó đạt được sựphù hợp hay không tương thích giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Sự can thiệpnày là quan trọng vì yếu tố để chiếm hữu chính là yếu tố chính trị của kinh tế tài chính, tương quan đếncơ sở chính trị của nhà nước. – Định hướng tổ chức triển khai quản lý của nội bộ doanh nghiệp, khuynh hướng điều lệ doanh nghiệp, phát hành điều lệ mẫu, lao lý những tiêu chuẩn đối với từng loại doanh nghiệp về vốn, vềnhân sự, về mạng lưới hệ thống sổ sách, biểu mẫu thống kê, kế toán, … Sự quản lý trên đây là thiết yếu xét từ cả hai phía : Nhà nước và người kinh doanh. Với doanhnhân, đó là những hướng dẫn chính đáng của Nhà nước để họ đủ năng lực sống sót và pháttriển trên thương trường, bảo vệ cho nội bộ họ sống tốt với nhau, từ đó mà sản xuất, kinh doanh thương mại phát đạt. Với Nhà nước, đó là việc đặt trước những tiền đề, những kênh giaotiếp quản lý, từ đó Nhà nước hoàn toàn có thể trấn áp được những hoạt động giải trí của doanh nghiệp mộtcác có hiệu lực thực thi hiện hành. – Định hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh thương mại của doanh nghiệp. Trong quản trị kinh doanh thương mại, người kinh doanh và cỗ máy giúp việc khi nào cũng phải tìm câu trảlời cho câu hỏi : sản xuất hoặc làm dịch vụ gì ? Việc vấn đáp thắc mắc này có ý nghĩa lớn laođối với cả Nhà nước và người kinh doanh. Trên thực tiễn, không phải người kinh doanh nào cũng cókhả năng tìm được lời giải tối ưu. Vì vậy, Nhà nước phải can thiệp để một mặt ngăn ngừaviệc sản xuất những loại sản phẩm, hoặc tạo ra những dịch vụ bất lợi cho xã hội, mặt khác hỗ trợdoanh nhân tìm được phương hướng sản xuất kinh doanh thương mại lâu bền, có doanh lợi cao vàtránh được rủi ro đáng tiếc. – Can thiệp vào việc thực thi những kế hoạch sản xuất kinh doanh thương mại của họ, đơn cử là : + Trong việc sử dụng tài nguyên và công sản vào những quy trình kinh tế tài chính, Nhà nước cầnphải ngăn ngừa những hành vi trộm cắp tài nguyên ; những hành vi khai thác một cách lãng phícác nguồn tài nguyên, những hành vi sử dụng tài nguyên vào những hoạt động giải trí sản xuất kinhdoanh không đem lại hiểu quả cao ; những hành vi lạm dụng, phá hoại, trốn phí khi sử dụngcác công sản, nhằm mục đích bảo toàn chúng. + Trong việc gây ô nhiễm thiên nhiên và môi trường, Nhà nước phải chăm sóc đến những hoạt động giải trí sảnxuất kinh doanh thương mại của doanh nghiệp có tương quan đế việc làm ô nhiễm môi trường tự nhiên. Chẳnghạn, việc lựa chọn nguyên vật liệu đưa vào sản xuất sao cho ít gây ô nhiễm ; việc vận dụng cácphương pháp tiêu huỷ chất thải ; việc sắp xếp vị trí doanh nghiệp sao cho ít ảnh hưởng tác động đếndân cư và những loại sản xuất xung quanh … + Trong phân bổ khu vực sản xuất chung của doanh nghiệp cũng như phân bổ những bộphận trong nội bộ doanh nghiệp. Trên trong thực tiễn, một số ít khu vực được những doanh nghiệplựa chọn đem lại lợi thể cho doanh nghiệp, nhưng lại gây ra bất lợi chung cho xã hội. Trên giác độ từng doanh nghiệp, việc sắp xếp nơi thao tác hoàn toàn có thể gây ra tác động ảnh hưởng xấu tớisức khoẻ người lao động. – Nhà nước quản lý yếu tố thống nhất hoá mẫu sản phẩm, tiêu chuẩn hoá mẫu sản phẩm và bảnquyền mẫu mã loại sản phẩm, vấn đè này có ý nghĩa trên nhiều mặt. Đối với người tiêudùng, đây là cơ sở để bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ cho người tiêu dùng. Đối với người sáng tạo, đâylà cơ sở để chống mọi hành vi đánh cắp bản quyền sở hữu trí tuệ. Đối với xã hội nói chung, đây là giải pháp để bảo vệ cho quy trình chuyên môn hoá được duy trì và tăng trưởng. – Nhà nước khuynh hướng sự lựa chọn đối tác chiến lược quan hệ của những người kinh doanh, đặc biệt quan trọng là cácquan hệ với người quốc tế để ngăn ngừa được những ảnh hưởng tác động ngoại xâm về mọi phươngdiện : văn hoá, chính trị, bảo mật an ninh, dịch bệnh … núp dưới con người và hàng hoá nhập khẩu, ngăn ngừa mọi sự rò rỉ chất xám kết tinh trong hàng hoá, thông tin kinh tế tài chính kỹ thuật … ranước ngoài. – Nhà nước can thiệp vào những hoạt động giải trí tự bảo vệ của những doanh nghiệp nhằm mục đích giúp họchống lại mọi đe doạ về gia tài và tính mạng con người, cũng như những nguy hiểm, rủi ro đáng tiếc trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh thương mại do thiên tai, địch hoạ hoặc bất kể sự đe doạ nào. Đối với mọi người kinh doanh, đây là mối chăm sóc cực kỳ to lớn mà họ không hề tự lo liệunổi. Chỉ có Nhà nước mới đủ năng lực bảo vệ những người kinh doanh cở những mặt nói trên. 3. Nội dung quản lý nhà nước đối với những mô hình doanh nghiệp3. 1. Xây dựng và phát hành những luật có tương quan đến hoạt động giải trí kinh tế tài chính nóichung, doanh nghiệp nói riêngNhà nước kiến thiết xây dựng hai loại pháp lý để kiểm soát và điều chỉnh những doanh nghiệp. Đó là : – Luật Tổ chức những mô hình doanh nghiệp, như Luật Doanh nghiệp nhà nước, LuậtDoanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, … theo đó, những chủ thể sản xuất kinh doanh thương mại hoàn toàn có thể sinh ra. – Luật lao lý những mặt hoạt động giải trí của những doanh nghiệp, như Luật Tài nguyên và Môitrường, Khoa học và Công nghệ, Lao động, Tài chính … để kiểm soát và điều chỉnh những hành vi củadoanh nhân khi hoạt động giải trí của họ có tương quan đến những yếu tố nói trên. 3.2. Tổ chức thực thi pháp lý và những khuynh hướng sản xuất kinh doanh thương mại của Nhà nước, gồm có việc : – Tuyên truyền, phổ cập pháp lý và kế hoạch, dự án Bất Động Sản góp vốn đầu tư. – Khuếch trương những hướng góp vốn đầu tư. – Tìm hiểu năng lực, nguyện vọng, khó khăn vất vả của công nhân trong việc hưởng ứng phápluật và những dự án Bất Động Sản góp vốn đầu tư mà Nhà nước lôi kéo ; xu thế khuyến khích, tương hỗ đầu tưđói với những đối tượng người dùng mà Nhà nước đặt sự quan tâm. – Tư vấn góp vốn đầu tư đối với những đối tượng người tiêu dùng có năng lực, nguyện vọng góp vốn đầu tư. – Xét duyệt và cấp giấy phép sản xuất kinh doanh thương mại, làm những thủ tục khác để đưa doanhnghiệp và người kinh doanh vào hoạt động giải trí trong nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý củaNhà nước. 3.3 Xây dựng những doanh nghiệp Nhà nước trong những ngành và lĩnh vựcNội dung này gồm có hàng loạt công vụ đó là : – Sáng kiến góp vốn đầu tư và kiến thiết xây dựng luận chứng kinh tế tài chính kỹ thuật cho những dự án Bất Động Sản xây dựngdoanh nghiệp Nhà nước mới, tổ chức triển khai lại, gọi thêm vốn, … – Thành lập Hội đồng đánh giá và thẩm định và thực thi thẩm định và đánh giá về những dự án Bất Động Sản đã đệ trình. – Thủ trưởng hành chính có thẩm quyền ( tuỳ theo luật định ) phê chuẩn. – Bộ phận thực thi dự án Bất Động Sản triển khai kiến thiết xây dựng cơ bản theo trình tự quản lý kiến thiết xây dựng cơ bảntheo luật định. 3.4. Thực hiện những hoạt động giải trí tương hỗ những doanh nghiệp, người kinh doanh trong quátrình sản xuất kinh doanhĐể thực thi nội dung quản lý này, Nhà nước những cấp phải triển khai hàng loạt công vụnhư : – Tạo nguồn vốn góp vốn đầu tư tặng thêm cho những chương trình kinh tế tài chính trọng điểm của Nhà nước, cho những hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại trong những ngành, nghành nghề dịch vụ mà Nhà nước khuyếnkhích. – Xây dựng và thực thi bảo hiểm sản xuất kinh doanh thương mại cho những doanh nghiệp thựchiện những trách nhiệm sản xuất kinh doanh thương mại theo khuynh hướng của Nhà nước và thực thi cácquy định của bảo hiểm. – Thực hiện miễm giảm thuế cho những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thương mại theo địnhhướng ưu tiên của Nhà nước. – Chuyển giao đến những nhà kinh doanh những thông tin chính trị, thời sự quan trọng cógiá trị trong sản xuất kinh doanh thương mại để họ tìm hiểu thêm. – Thực hiện chương trình tu dưỡng kiến thức và kỹ năng quản trị kinh doanh thương mại, giúp những doanh nghiệphiện đại hoá đội ngữ viên chức nghiệp vụ quản trị kinh doanh thương mại. – Mở ra những TT thông tin, những triểm lãm thành tựu kinh tế tài chính kỹ thuật để tạo môitrường cho những doanh nghiệp tiếp xúc và bắt mối sản xuất kinh doanh thương mại với nhau. – Thực hiện những tương hỗ pháp lý, đặc biệt quan trọng là tương hỗ tư pháp quốc tế đối với những doanhnghiệp kinh doanh thương mại trên thị trường quốc tế. – Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để tạo điều kiện kèm theo cho sự hình thành đồng nhất những loại thịtrường. Đồng thời quản lý những loại thị trường đó để những người kinh doanh có được môi trườngthuận lợi trong giao lưu kinh tế tài chính : thị trường hoá thường thì, thị trường vốn, thị trườngsức lao động, thị trường khoa học công nghệ tiên tiến, thị trường thông tin, thị trường chất xám, … Nhà nước bảo vệ một thiên nhiên và môi trường thị trường chân thực để giúp những người kinh doanh khôngbị lừa gạt trên thị trường đó. 3.5. Nhà nước thực thi sự kiểm tra, giám sát tuân thủ pháp lý của những doanhnhân trên thương trường – Kiểm tra tính hợp pháp đối với sự sống sót doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp sinh ra đềuphải có giấy phép. Giấy phép chỉ cấp cho những người kinh doanh với doanh nghiệp đủ điềukiện. Việc kiểm tra này nhằm mục đích loại trừ những doanh nghiệp sinh ra không ĐK hoặc khôngđủ điều kiện kèm theo mặc dầu đã được cấp giấy phép. – Kiểm tra để xác lập năng lực liên tục sống sót của doanh nghiệp. Khi những doanh nhânđăng ký kinh doanh thương mại, họ phải có đủ điều kiện kèm theo mới được Nhà nước cấp giấy phép kinhdoanh. Do đó trong quy trình hoạt động giải trí, nếu những điều kiện kèm theo ấy không được bảo vệ thìdoanh nghiệp đó phải bị đình chỉ hoạt động giải trí. Để kịp thời phát hiện được tín hiệu sa sútkhả năng, biểu lộ của sự phá sản, để có quyết định hành động phá sản doanh nghiệp, Nhà nướcphải thực thi kiểm tra. – Kiểm tra định kỳ theo chính sách nhằm mục đích bảo vệ nhắc nhở những doanh nghiệp thường xuyênchấp hành pháp luật. Các đối tượng người tiêu dùng kiểm tra thường là về yếu tố an toàn lao động, phòngchống cháy, về chấp hành những pháp luật về bảo đảm an toàn vệ sinh môi trường tự nhiên, về kiểm toánnhằm bảo vệ chính sách ghi chép bắt đầu đúng pháp luật của chính sách kế toán Nhà nước, … – Thanh tra, kiểm tra khi có tín hiệu vi phạm pháp luật hình sự, như có hiện tượng kỳ lạ trốnlậu thuế, xâm phạm gia tài xã hội chủ nghĩa hoặc gia tài công dân, kinh doanh thương mại những mặthàng quốc cấm, … – Thanh tra, kiểm tra khi có đơn thư khiếu tố. 3.6 Nhà nước triển khai thu quyền lợi công từ hoạt động giải trí của những doanh nghiệpThuộc loại công vụ chung này có hai loại công vụ đơn cử là : – Thực hiện quyền thu đối với mọi loại doanh nghiệp. – Thực hiện quyền thu đối với doanh nghiệp nhà nước với tư cách người chủ chiếm hữu. 4. Quản lý nhà nước đối với DNNN4. 1 Xây dựng kế hoạch, quy hoạch, kế hoạch và những dự án Bất Động Sản tăng trưởng hệ thốngDNNNĐây là bước khởi đầu của hàng loạt quy trình quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhànước. Việc thiết kế xây dựng kế hoạch, quy hoạch, kế hoạch và những dự án Bất Động Sản tăng trưởng hệ thốngdoanh nghiệp nhà nước phải đặt trong mối quan hệ với toàn diện và tổng thể kế hoạch và quy hoạch, kế hoạch tăng trưởng hàng loạt mạng lưới hệ thống doanh nghiệp chung của cả nước, của từng ngành vàtừng vùng chủ quyền lãnh thổ, thế cho nên phải đưa ra được : – Những chỉ tiêu bộc lộ trách nhiệm kinh tế tài chính mà những doanh nghiệp nhà nước phải đảmnhiệm ; – Mô hình tổng thể lực lượng doanh nghiệp nhà nước cần có để đảm nhiệm những nhiệmvụ nói trên được biểu lộ thành những dự án Bất Động Sản doanh nghiệp đơn cử ; – Phần tăng giảm lực lượng doanh nghiệp nhà nước so với quy mô trên, gồm có việcxây dựng và cắt giảm những doanh nghiệp nhà nước mới, những doanh nghiệp nhà nướckhông còn sống sót. Đối với việc thiết kế xây dựng những doanh nghiệp nhà nước mới cần có dự án Bất Động Sản đơn cử. Đối với việccắt giảm những doanh nghiệp nhà nước hiện có, cần có kế hoạch, bước đi theo nhữngphương án chuyển chiếm hữu đơn cử. Đối với cả hai trường hợp cần có sự thống kê giám sát, xem xét, thực thi một cách thận trọng đểthu được tác dụng mong ước. 4.2 Hoàn thiện thể chế tổ chức triển khai và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhànướcViệc bổ trợ, thay đổi, hoàn thành xong việc tổ chức triển khai quản lý nhà nước đối với doanh nghiệpnhà nước cho tương thích với sự tăng trưởng tiếp tục do thực thi đề ra là một nội dungkhông thể thiếu được. Điều này yên cầu sự theo dõi, phát hiện liên tục, kịp thời sự pháttriển của bản thân lực lượng doanh nghiệp nhà nước và sự tăng trưởng của thị trường ; tiếnhành nhìn nhận, tổng kết công tác làm việc quản lý nhà nước đối với vốn doanh nghiệp nhà nước. Trên cơ sở đó, hoàn thành xong thể chế tổ chức triển khai và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhànước bằng những hình thức : – Bổ sung và triển khai xong hệ thốn pháp lý, thể chế, quy tắc nhằm mục đích kiểm soát và điều chỉnh, tổ chức triển khai bộmáy và quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước. – Bổ sung và hoàn thành xong tổ chức triển khai cỗ máy, phân công trách nhiệm, quyền hạn, trách nhiẹmgiữa những cấp, những ngành trong cỗ máy nhà nước để quản lý những doanh nghiệp nhà nước. Để triển khai việc hoàn thành xong thể chế tổ chức triển khai và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệpnhà nước, phải thực thi điều tra và nghiên cứu, tổng kết, nhìn nhận có phê phán mạng lưới hệ thống pháp lý, thể chế hiện hành, nêu ra những điều thiết yếu phải sửa đổi, bổ trợ hoặc bãi bỏ. Trên cơsở đó, nêu ra những pháp luật mới tương thích với tình hình và trách nhiệm mới của doanhnghiệp và của những cơ quan nhà nước trong việc quản lý những doanh nghiệp nhà nước. 4.3 Tổ chức góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng người kinh doanh nhà nước theo kế hoạch dự án Bất Động Sản đãlậpĐây là bước tiếp theo sau khi kiến thiết xây dựng kế hoạch, quy hoạch và những dự án Bất Động Sản tăng trưởng cụthể, là hành vi đơn cử biến những khuynh hướng tiềm năng ( còn nằm trên giấy ) trở thànhhiện thực. Vì vậy, phải đạt tiềm năng và nhu yếu là biến những kế hoạch, dự án Bất Động Sản xây dựngmới, kiến thiết xây dựng lại, quy đổi chiếm hữu doanh nghiệp nhà nước thành mạng lưới hệ thống doanhnghiệp nhà nước mới, hoặc thành công ty có CP của nhà nước, công ty, hoặch doanhnghiệp tư nhân … trên thực tiễn. Đối với yếu tố này, có hai việc phải làm : – Xây dựng mới, kiến thiết xây dựng lại, chỉnh đốn doanh nghiệp nhà nước. Toàn bộ hoạt động giải trí nàyđược thực thi theo trình tự quản lý, góp vốn đầu tư thiết kế xây dựng cơ bản. – Chuyển đổi chiếm hữu doanh nghiệp nhà nước. Toàn bộ hoạt động giải trí này được thực thi theocác pháp luật về triển khai giải thể doanh nghiệp nhà nước và cổ phần hoá doanh nghiệpnhà nước. 4.4 Bố trí nhân sự cho cỗ máy quản trị những DNNNVấn đề nhân sự trong những doanh nghiệp nhà nước có vai trò rất là quan trọng vì nó ảnhhướng tới việc bảo toàn vốn của Nhà nước có trong doanh nghiệp. Vì vậy, để bảo vệ cóđược cỗ máy quản trị DNNN đáng đáng tin cậy, công tác làm việc tổ chức triển khai nhân sự cho cỗ máy quản trịcác DNNN phải xử lý những yếu tố sau : – Xây dựng điều lệ mẫu và phê chuâẩ điều lệ đơn cử của từng DNNN. – Chọn và chỉ định nhân sự đơn cử ở những vị trí quan trọng của DNNN như : quản trị, PhóChủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Giám đốc DNNN theo sự phân cấp … Chuẩn bị nguồn lực, lựa chọn và sử dụng, huấn luyện và đào tạo và giảng dạy lại. – Giám sát người đại diện thay mặt. 4.5 Khai thác, sử dụng những doanh nghiệp nhà nước vào việc triển khai cácnhiệm vụ chính trị của Nhà nướcTrong quản lý nhà nước đối với những doanh nghiệp nhà nước, việc khai thác sử dụng lựclượng doanh nghiệp nhà nước như thể đội quân nòng cốt kinh tế tài chính, hoặch như là “ vũ khí kinhtế đa phần ” của Nhà nước là nội dung cực kỳ quan trọng trong việc quản lý vĩ mô nềnkinh tế thị trường khuynh hướng XHCN. Nó nói lên ý nghĩa đích thực của doanh nghiệp nhànước, mà nếu không làm được việc này thì việc kiến thiết xây dựng doanh nghiệp nhà nước là điềuvô nghĩa, Khai thác, sử dụng những doanh nghiệp nhà nước vào việc thực thi những trách nhiệm chính trịcủa Nhà nước, thực ra là sử dụng những doanh nghiệp nhà nước vào việc thực thi cácnhiệm vụ kinh tế tài chính của Nhà nước. Những trách nhiệm kinh tế tài chính này cần cho nhà nước để thựchiện một ý đồ ship hàng quốc phòng, trách nhiệm kinh tế tài chính để thực thi chương trình ổn địnhphân bố dân cư, trách nhiệm kinh tế tài chính để khống chế những hoạt động giải trí kinh tế tài chính của những lực lượngkinh tế mà Nhà nước cần phải khống chế, trách nhiệm sản xuất những hàng hoá, dịch vụ màcác doanh nghiệp ngoài quốc doanh không được, khổng thể và không muốn làm để bổsung nguồn hàng hoá và dịch vụ xã hội. Để khai thác, sử dụng những doanh nghiệp nhà nước vào việc triển khai có hiệu suất cao nhiệmvụ kinh tế tài chính của Nhà nước, cần phải triển khai những việc làm sau đây : – Xác định những tiềm năng mà Nhà nước cần đạt được trong nghành nghề dịch vụ kinh tế tài chính – xã hội màNhà nước chăm sóc. – Xác định những hành vi kinh tế tài chính, có năng lực hoặc có tính năng đối với thực thi những mụctiêu trên. – Giao trách nhiệm hoạt động giải trí kinh tế tài chính cho những doanh nghiệp nhà nước. – Chuyển giao những phương tiện đi lại thiết yếu, đủ để cho DNNN thực thi những nhiệm vụđược giao. – Ban hành và vận dụng những giải pháp, chủ trương ưu tiên, tặng thêm đối với doanh nghiệpnhà nước nhằm mục đích giúp những doanh nghiệp triển khai xong tốt trách nhiệm chính trị được giao. – Kiểm tra, đôn đốc việc triển khai những trách nhiệm nói trên. 4.6 Quản lý vốn và lãi của vốn nhà nước trong những DNNN nói riêng và trongtất cả những doanh nghiệp có vốn nhà nước nói chung – Mục tiêu quản lý : + Bảo toàn và tăng trưởng vốn nhà nước. + Nâng cao hiệu suất cao kinh tế tài chính của vốn góp vốn đầu tư của Nhà nước. – Nội dung quản lý : + Kiểm kê gia tài và vốn của DNNN trong từng năm. + Thực hiện truy thuế kiểm toán đối với những DNNN. + Thực hiện thanh tra kinh tế tài chính khi thiết yếu. 5. Quản lý nhà nước với những hợp tác xã5. 1 Xác định phương hướng tăng trưởng những hợp tác xãXác định phương hướng là nội dung quan trọng số 1 trong quy trình tiến độ quản lý nhànước đối với hợp tác xã. Tập thể hoá một cách nóng vội chẳng những kém hiệu suất cao màdân chủ còn bị vi phạm. Sự buông lỏng, để mặc cho người lao động tự lo, như đã cótrong thời hạn dài vừa mới qua là chưa xác lập đúng vai trò của kinh tế tài chính hợp tác xã. Cần xuất phát từ hai nhu yếu sau đây để khuynh hướng vận dụng hình thức doanh nghiệp tậpthể : – Một là, ngành nghề đó có cần phải hợp tác lao động không ? Hợp tác ở khâu nào ? – Hai là, người lao động đang hành nghề đó có nhu yếu, có nguyện vọng link lại vớinhau nhưng lại chưa tìm ra giải pháp để thực thi link. Quản lý nhà nước cần hướng vào việc nghiên cứu và điều tra, phát hiện yếu tố và có giải pháp giảiquyết kịp thời. 5.2 Xây dựng những quy mô xí nghiệp sản xuất tập thể với những loại ngành nghề khácnhau, làm cơ sở cho công tác làm việc tuyên truyền hoạt động và tương hỗ những tập thể lao động saunày. Mô hình đó phải gồm có hai mảng : – Phương thức tổ chức triển khai lao động. – Phương thức quản lý HTX mà TT phải là giải pháp phân loại thành quả laođộng sản xuất. Thông thường, phương pháp trên đây được bộc lộ trong điều lệ mẫu của hợp tác xã cácloại : từ thấp đến cao, từ ngành này sang ngành khác. 5.3 Tuyên truyền hoạt động, cố vấn bảo trợ để người lao động hình thành những tổchức lao động của họCó hai cách trợ giúp của Nhà nước : – Trực tiếp, đó là cách mà cán bộ nhà nước sử dụng một số ít phương tiện đi lại nhất định banđầu, đứng ra tập hợp lao động, tổ chức triển khai sản xuất kinh doanh thương mại, đưa tổng hợp vào quản lý và vận hành trênthương trường sao cho mọi người quen việc, tự lập được thì Nhà nước chuyển giao cho tậpthể đỏ, rút người và hoàn toàn có thể rút vốn ra, hoặc giao hẳn cho hợp tác xã. Cách làm trực tiếp này rất thích dụng và thiết yếu đối với những ngành nghề mà đối vớinhững ngành nghề đó, muốn tổ chức triển khai hợp tác xã yên cầu phải có khà năng tổ chức triển khai và cơ sởvật chất nhất định. Nhiều nước trên quốc tế đã vận dụng phương pháp này không chỉ trongviệc thiết kế xây dựng hợp tác xã mà còn cả trong việc xây dưng doanh nghiệp tư nhân. Cách làmnày được công dân rất gắn bó và ủng hộ. – Gián tiếp, đó là cách trợ giúp của nhà nước đối với một nhóm người, có ý chí và khảnăng, cố vấn cho họ để họ đứng ra tập hợp phường hội, hình thành tổ chức triển khai, cơ sở vậtchất, cỗ máy quản trị. 5.4 Thường xuyên chăm sóc tìm việc, tìm nguyên vật liệu tương hỗ những hợp tác xã, đặc biệt quan trọng là những hợp tác xã có ý nghĩa chính trị, xã hội rõ rệtLoại hình doanh nghiệp tập thể phải được Nhà nước coi trọng, bởi nó thân thiện với côngbằng, bác ái, là tổ chức triển khai của người nghèo phụ thuộc nhau. Hơn thê, hợp tác xã còn thườnglà tổ chức triển khai của những người tàn tật, khiếm năng, thương bệnh binh. Do đó cần sự giúp đỡđặc biệt của Nhà nước. Sự giúp sức này là rất thiết yếu không riêng gì ở nước ta, một nướcXHCN, mà ở những vương quốc trên quốc tế cũng vậy, bởi tính nhân đạo là cái bảo vệ ổnđịnh chính trị cho mọi vương quốc. 5.5 Thực hiện những tương hỗ đặc biệt quan trọng về vật chất kỹ thuật cho những doanh nghiệptập thể để thực thi công nghiệp hoá, tân tiến hoáTrong quản lý nhà nước đối với những doanh nghiệp tập thể, cần có chủ trương thực hiệncông nghiệp hoá nông nghiệp, nghĩa là thôi thúc kinh tế tài chính nông nghiệp và nông thôn pháttriển mạnh nhằm mục đích tạo ra nhiềm loại sản phẩm hàng hoá với chất lượng ngày càng tốt hơn. Đểnâng cao hiệu suất, hiệu suất, chất lượng hàng hoá nông nghiệp, nhà nước phải có chínhsách khuyến khích, góp vốn đầu tư cho những doanh nghiệp tập thể theo những hướng đưa những côngnghệ văn minh, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất, trước hết là những khâu giống, thựchiện cơ giới hoá từng phần việc làm. 5.6. Nhà nước triển khai thực thi thanh tra, kiểm tra những hoạt động giải trí của hợptác xã theo lao lý của pháp luậtChế biến nông, lâm, thuỷ sản ở nông thôn theo quy mô vừa và nhỏ tại những cụm côngnghiệp. Khuyến khích tăng trưởng nhiều ngành nghề truyền thống lịch sử để tạo việc làm, xử lý lượnglao động dôi thừa, tăng thu nhập, tăng trưởng những ngành nghề mới. Nhà nước có những chủ trương khuyến khích và thôi thúc xử lý yếu tố thị trường, đối với những doanh nghiệp tập thể, ngoài thị trường trong nước, cần tiếp cận với thị trường cácnước trong khu vực và quốc tế. Đây là yếu tố có ý nghĩa quan trọng để sản xuất mặthàng gì, sản xuất bao nhiêu, chất lượng thế nào, vì nhu yếu thị trường quyết định hành động loại sảnphẩm, quy mô, vận tốc, bước tiến của những doanh nghiệp tập thể. Nhà nước tổ chức triển khai tốt công tác làm việc thông tin và thị trường trong nước cũng như thị trường thếgiới. Vấn đề này rất quan trọng vì nó giúp cho những nhà phân phối, kinh doanh thương mại có thông tinđể có kế hoạch tăng trưởng doanh nghiệp trước mắt và lâu bền hơn. 6. Nội dung QLNN đối với Doanh nghiệp có vốn góp vốn đầu tư nước ngoàiNội dung phần này hoàn toàn có thể tìm thấy trong phần kinh tế tài chính đối ngoại tiếp sau .

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *