Phương pháp và kỹ năng truyền thông

Phương pháp và kỹ năng truyền thông

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (447.42 KB, 24 trang )

(Ti liệu tham khảo)
Truyền thông

H Nội, tháng 5-2007
CHƯƠNG TRìNH HợP TáC VIệT NAM – THUỵ ĐIểN
về Tăng cờng Năng lực Quản lý Đất đai v Môi trờng
Nhóm nâng cao nhận thức cộng đồng v truyền thông
Phơng pháp v kỹ năng

1
Mục lục

PHÇN 1………………………………………………………………………………………………2
CÁC PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THÔNG ……………………………………………….2
1. Phương pháp truyền thông trực tiếp:……………………………………………2
2. Phương pháp truyền thông gián tiếp…………………………………………….2
3. Các bước cơ bản trong quá trình truyền thông…………………………….3
PHÇN 2………………………………………………………………………………………………4
CÁC KỸ NĂNG TRUYỀN THÔNG CƠ BẢN……………………………………………4
1. Làm quen và giới thiệu…………………………………………………………………4
2. Kỹ năng nghe ………………………………………………………………………………4
3. Kỹ năng hỏi …………………………………………………………………………………4
5. Kỹ năng tổ chức họp ……………………………………………………………………6
5. Kỹ năng chia nhóm………………………………………………………………………6
6. Kỹ năng tổ chức thảo luận nhóm………………………………………………….6
7. Kỹ năng viết bài cho bản tin, báo ………………………………………………….7
8. Viết tin cho đài phát thanh ………………………………………………………….13
9. Kỹ năng làm phim tài liệu……………………………………………………………14
PHÇN 3…………………………………………………………………………………………….16

CÁC KỸ NĂNG SỬ DỤNG TÀI LIỆU TRUYỀN THÔNG …………………………17
1. Cách sử dụng tờ rơi, tờ gấp ……………………………………………………….17
2. Cách sử dụng tranh lật……………………………………………………………….18
3. Cách sử dụng áp-phích………………………………………………………………18
PHÇN 4…………………………………………………………………………………………….20
CÁC KỸ NĂNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ TRUYỀN THÔNG ……………………….20
1. Máy tính và các phần mềm…………………………………………………………20
2. Máy ảnh kỹ thuật số…………………………………………………………………..20
3. Máy quay phim ………………………………………………………………………….20
4. Cách sử dụng băng cát-xét/đĩa CD/VCD/DVD. ……………………………..20
PHÇN 5…………………………………………………………………………………………….21
PHƯƠNG PHÁP SINH HOẠT TRUYỀN TH«NG CỘNG ĐỒNG………………21
1. Giáo dục qua bài hát…………………………………………………………………..21
2. Một vài trò chơi:…………………………………………………………………………22

2
PhÇn 1
CÁC PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THÔNG

1. Phương pháp truyền thông trực tiếp:
1.1. Khái niệm: Là kênh truyền thông được thực hiện trực diện giữa người với
người. Đối tượng của truyền thông trực tiếp có thể là một hay một nhóm người.
Ví dụ:
– Tổ chức các buổi nói chuyện về môi trường và sức khỏe con người
(thông qua họp thôn, họp Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, nói chuyện tại
trường học v.v.).
– Thảo luận nhóm
– Đến thăm hộ gia đình

– Truyền thông với cá nhân
– Sinh hoạt câu lạc bộ
– Làm mẫu thực hành
– Tư vấn v.v.

1.2. Ưu điểm
– Người truyền thông có thể biết được kiến thức, thái độ và thực hành của
đối tượng như thế nào. Nhờ vậy có thể điều chỉnh nội dung, cách truyền
đạt hoặc có biện pháp tác động thích hợp với từng đối tượng để thay đổi
hành vi.
– Người truyền thông có thể nhận được thông tin phản hồi từ đối tượng do
đó hiểu được tâm tư, tình cảm, hoàn cảnh, khó khăn của đối tượng và
dễ dàng đánh giá được hiệu quả truyền thông.
– Truyền thông trực tiếp là kênh truyền thông có hiệu quả nhất. Nó quyết
định đến sự thay đổi hành vi của đối tượng.

1.3. Hạn chế:
– Truyền thông trực tiếp chỉ tiếp cận đến một nhóm đối tượng hạn chế, vì
vậy khó có đủ nhân lực làm công tác truyền thông.
– Người truyền thông phải có kiến thức, kỹ năng cần thiết để đáp ứng với
nhu cầu của mọi người dân.
– Hiệu quả truyền thông phụ thuộc vào khả năng của truyền thông viên.

2. Phương pháp truyền thông gián tiếp
2.1. Khái niệm: Là kênh truyền thông được thực hiện qua các phương tiện
thông tin đại chúng như vô tuyến, đài phát thanh, loa truyền thanh, báo, tạp chí,
bản tin v.v. và các loại tài liệu truyền thông như áp phích, tờ rơi, tờ gấp v.v.

2.2. Ưu điểm:
– Nội dung truyền thông mang tính thống nhất, tin cậy và có thể phát đi

phát lại nhiều lần.
– Có khả năng truyền tin nhanh, đến được nhiều người và nhiều nhóm đối
tượng cùng một lúc.

3
– Tạo ra được dư luận và môi trường xã hội thuận lợi cho việc thay đổi
thái độ và hành vi của đối tượng.

2.3. Hạn chế:
– Thông tin đại chúng chỉ có khả năng cung cấp kiến thức: nếu chỉ thực
hiện riêng truyền thông gián tiếp sẽ khó làm thay đổi hành vi của đối
tượng.
– Khó thu được thông tin phản hồi do đó khó đánh giá được hiệu quả
truyền thông.
– Đòi hỏi phải có những phương tiện, trang thiết bị phục vụ quá trình
truyền và nhận tin như đài phát thanh, vô tuyến, đài thu thanh…
– Sự phân chia thành 2 kênh truyền thông trực tiếp và gián tiếp chỉ là
tương đối. Đôi khi 2 kênh này có sự đan xen lẫn nhau. Ví dụ: trong các
buổi thảo luận nhóm, nói chuyện với cộng đồng, vẫn kết hợp phát các tài
liệu truyền thông hoặc trong các buổi tọa đàm trên truyền hình vẫn có
các đường dây nóng để có thể giao lưu trực tiếp với khán giả…

ÎVì vậy, phối hợp cả 2 phương pháp là cách tốt nhất và hiệu quả nhất.

3. Các bước cơ bản trong quá trình truyền thông

1. Luôn lắng nghe nhu cầu của đối tượng: Tìm hiểu những điều mà đối
tượng đã biết, tin và làm. Hãy khen ngợi nếu họ đã hiểu đúng và đã
làm tốt.
2. Bổ sung những thông tin còn thiếu, mô tả chính xác điều đối tượng

nên làm và lợi ích của hành vi mới.
3. Tìm hiểu các khó khăn mà đối tượng có thể gặp phải khi thực hiện
hành vi mới và thỏa luận cách giải quyết.
4. Kiểm tra xem đối tượng có hiểu những gì bạn vừa trao đổi không.
5. Động viên, khuyến khích họ làm theo.
6. Đạt được cam kết về việc họ sẽ làm trong tương lai.

4
PhÇn 2
CÁC KỸ NĂNG TRUYỀN THÔNG CƠ BẢN

1. Làm quen và giới thiệu

Cách 1: mỗi người lần lượt tự giới thiệu về mình: tên, tuổi, nghề nghiệp, gia
cảnh, quan niệm sống, mong đợi.

Cách 2: Phát mỗi người 1 bảng tên, tự ghi tên mình và tự đặt tên đệm cạnh tên
mình để gọi tên nhau trong suốt thời gian sinh hoạt, tập huấn.

Cách 3: Đứng vòng tròn: gọi tên lần lượt từ người này đến người khác, ai biết
tên ai đến lượt mình có thể gọ
i tên người đó. “A gọi B” tất cả vỗ tay 2 cái, đến
lượt “B gọi C” và cứ thế đến khi mọi người biết tên nhau. Có thể mỗi người đặt
biệt danh cho mình để gọi cho phần vui tươi, chẳng hạn “Bảo bánh bao gọi

Tường tê tái”.

2. Kỹ năng nghe

Rất nhiều người trong chúng ta có nhiều lúc nghe nhưng không nhập tâm, khi
đó chỉ cảm nhận thấy âm thanh dội đến tai nhưng não không xử lý các âm
thanh
đó thành các thông tin có thể hiểu được. Hiện tượng này còn gọi là nghe
bị động. Để những âm thanh đó trở thành các thông tin thì điều kiện phải đạt
được là lắng nghe một các chủ động.

Chúng ta không làm việc gì khác khi nghe ai đó nói nếu không sẽ bị phân tán tư
tưởng dẫn đến hiểu không thấu đáo

Chú ý lắng nghe là thể hiện sự tôn trọng người nói. Do đó cần phải nhìn vào
người nói chứ không quay đi nơi khác.

Trong khi nghe nếu bạn không hiểu hãy i) hỏi ngay, hoặc ii) ghi lại và hỏi sau.
Nếu âm thanh không đủ to hoặc quá lớn nên đề nghị điều chỉnh.

3. Kỹ năng hỏi

– Sử dụng tốt các giao tiếp không lời:
+ Loại bỏ những vật cản giữa bạn và đối tượng;
+ Nhìn vào mắt đối tượng một cách thân mật.
+ Không tỏ ra vội vã;
+ Dùng từ ngữ quen thuộc, dễ hiểu
+ Thái độ, vẻ mặt, dáng điệu, cử chỉ …phù hợp.
– Hỏi cách câu hỏi một cách ngắn gọn: Có hai loại câu hỏi thường được
sử dụng là câu hỏi đóng và câu hỏi mở:

+ Câu hỏi đóng: dành cho các câu trả lời “có” hoặc “không”. Ví dụ:
“Khu vực xung quanh nhà bạn có đặt thùng đựng rác không?”
“Bạn đã bao giờ tham gia dọn vệ sinh công cộng nơi gia đình bạn

5
sinh sống chưa?” Câu hỏi đóng đưa lại ít thông tin và đối tượng
dễ trả lời theo ý của người hỏi.
+ Câu hỏi mở bắt đầu hoặc kết thúc bằng các từ như: tại sao? Khi
nào? Bao lâu? Như thế nào? Cái gì? Ở đâu?
Ví dụ: “Hàng ngày, gia đình ông/bà làm những gì để giữ vệ sinh
môi trường cho gia đình mình?”, “Gia đình ông/bà mua nước sạch
từ đâu?”. Câu hỏi mở đem lại nhiều thông tin vì người được hỏi
phải trả lời dài. Cần sử dụng nhiều câu hỏi mở để khai thác được
nhiều thông tin chính xác.

– Hưởng ứng và biểu lộ sự quan tâm bằng cách:
+ Nhìn vào người đối thoại, gật đầu, mỉm cười tán thưởng.
+ Sử dụng các lời đệm đơn giản như “à”, “ừ”, “thế à” v.v.
– Nhắc lại những điều mà đối tượng đang nói: tốt nhất là h
ỏi lại một cách
nhẹ nhàng để tránh nhắc lại nguyên văn lời của họ. Điều này giúp người
nói chú ý đến những cảm giác của mình và thỏa mãn khi được người ta
hiểu. Nếu bạn hiểu sai người đó có thể sửa cho bạn. Ví dụ: khi một
người nói, “tôi bị viêm phổi mãn tính vì thường xuyên hít phải khói bụi
của nhà máy xi măng gần nhà”. Bạn có thể nhắc lại “ông bị viêm phổi
như
thế, ông đã đi khám ở đâu chưa?”
– Thông cảm- tỏ ra rằng bạn hiểu những cảm nghĩ của đối tượng: thông
cảm có nghĩa là bạn tỏ ra hiểu được những cảm nghĩ của một người.
– Tránh dùng những lời phê phán: những từ phê phán như đúng, sai,

không tốt, xấu, không thích hợp v.v. Nếu bạn sử dụng những từ này, khi
hỏi sẽ làm cho đối tượng cảm thấy có lỗi hoặc có điều gì sai sót.

4. Kỹ năng nói/ trình bầy

Nói điều người ta muốn nghe chứ không phải nói điều mình muốn nói.

– Sử dụng tiếng Việt trong sáng, không pha lẫn các thứ tiếng khác nếu
không giải thích VD: “Hê lô các bác, hôm nay tôi đến đây để Suppót các
bác về vấn đề môi trường” đối với câu nói thế này sẽ gây một cảm giác
khó chịu cho người nghe.
– Cần có thái độ chân thành, trung thực, cởi mở.
– Nên sử dụng các cử chỉ, điệu bộ, (ánh mắt) khi giao tiếp để thể hiện
mình đang cố gắng truyền đạt hoặc đang lắng nghe.
– Kỹ năng giao tiếp bằng lời: gợi chuyện, giọng nói, phản ánh, khôi hài…
– Luôn quan sát xem có ai đang ngủ gật trong không? Nếu có: tức là
mình đã nói quá dài >15 phút, và với một chất giọng trầm trầm –ngang
ngang, nên sẽ tạo một cảm giác buồn ngủ cho mọi người. -> cách làm
họ tỉnh lại là nói ngắn gọn, tạo sự tham gia bằng việc tương tác với mọi
người, đặt các câu hỏi hoặc
đưa ra những ví dụ chứng minh thực tế.
– Khi nói cần phải bảo đảm rằng mọi người có thể nghe rõ, nếu bạn là
người nói nhỏ thì cần sử dụng Micro để hỗ trợ. Cần lên, xuống giọng
đúng lúc để tạo sự thu hút khi truyền đạt.

Đe dọa và uy quyền không có tác dụng

6
Vd: “Nếu bác vi phạm một lần nữa thì chúng tôi sẽ cho bác đi tù đấy!” Thay vì

câu nói này, nên giải thích cho bác ấy rõ bác đã sai ở chỗ nào và cách khắc
phục là như thế nào.

5. Kỹ năng tổ chức họp
– Cần phải thông báo cho tất cả các thành viên trước về yêu cầu của cuộc
họp (thời gian, địa điểm, nội dung vv) để lên kế hoạc công tác.
– Khuyến khích sự tham gia ngay cả trước khi cuộc họp diễn ra.
– Khuyến khích thảo luận đóng góp thay vì công kích hoạc chê bai ý kiến
của người khác.
– Thu ký buổi họp ghi chép các ý kiến và tổng hợp thành biên bản được
thông qua tại cuối buổi.
– Gửi biên bản cuộc họp đến tất cả các thành viên tham gia
– Sau hop: Cần theo dõi những gì đã được quyết định được tiến hành hay
chưa? Kế quả thế nào?

6. Kỹ năng chia nhóm

Cách 1: Kết thân:
– Người quản trò hô “Kết thân! Kết thân!”.
Cử tọa: “Kết mấy? Kết mấy?”.
– Người quản trò: (nói số người cần kết vòng) ví dụ: kết 4 kết 4.
– Cử tọa: tìm đủ số người để kết.
– Người quản trò: chọn lựa số nhóm mình muốn chia.
+ Ưu điểm: nhanh
+ Nhược điểm: những người thân nhau tìm để kết với nhau.

Cách 2: đếm số
Mọi người đang kết vòng tròn. Lấy một người bất kỳ làm chuẩn, cho đếm lần
lượt từ 1 đến 5 chẳng hạn (bao nhiê số thứ tự thì chia thành bấy nhiêm nhóm,
và tiếp tục đếm lượt khác từ 1 đến 5, khi người cuối cùng có số thì kết thúc. Ai

mang số nào thì kết vòng theo số đó.
Ưu điểm: chọn được những nhóm với những thành viên tự nhiên.

Cách 3: Chia theo màu
Người quản trò: phát bất kỳ mỗi người 1 phiếu màu hoặc 1 dải khăn màu. Ai có
phiếu hoặc dải dây cùng màu thì trở thành nhóm của nhau. Cho mỗi nhóm đặt
1 tên theo chủ đề mà người quản trò muốn (ví dụ: nhóm Đoàn Kết, nhóm Thân
Ái, nhóm Tuổi trẻ v.v.). Mỗi nhóm sẽ có tên mới để tham gia các hoạt động
cùng nhau.

7. Kỹ năng tổ chức thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm nhằm tìm ra biện pháp giải quyết các vấn đề mà được cả
nhóm nhất trí.

Các bước
– Chuẩn bị câu hỏi thảo luận nhóm, và một số gợi ý mang tính chất định
hướng nếu nhận thấy các nhóm chưa thật hiểu câu hỏi.
– Phân nhóm thảo luận (xem phần kỹ năng phân nhóm ở dưới)

7
– Đọc các câu hỏi rõ ràng, nếu có từ chuyên môn hoặc Hán Việt thì cần
phải giải thích cho các nhóm nắm rõ.
– Quy định về thời gian thảo luận cho các nhóm (tối thiều là 20 phút)
– Giao cho các nhóm văn phòng phẩm cần thiết để hỗ trợ thảo luận (Giấy
A0, bút viết, thước kẻ, vv)
– Các nhóm tự bầu ra trưởng nhóm và thư ký ghi chép.
– Thể hiện kết quả thảo luận trên giấy hoặc máy chiếu
– Các nhóm trình bầy thảo luận, bổ sung của thành viên
– Ý kiến nhận xét của các nhóm khác và phản hồi của chủ tọa/ hỗ trợ viên.

Lưu ý: Động viên mọi người phát biểu, khéo léo ngăn bớt những phát biểu quá
dài, tổng hợp ý kiến đi đến kết luận một cách rõ ràng, mạch lạc.

8. Kỹ năng viết bài cho bản tin, báo

Nguyên tắc
– Viết câu ngắn gọn, rõ ràng, có dẫn dắt Æ chứng minh Ænhận định
– Xác định rõ trước mình sẽ viết cái gì và viết cho ai?
– Không áp đặt ý kiến cá nhân cho người khác
– Không chỉ trích hoặc gây ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức/ cá nhân
khác.
– Không bình luận đến các vấn đề chính trị, và các vấn đề nhậy cảm

Mở đầu và kết thúc
Đối với một tin tức, thông tin quan trọng nhất bao giờ cũng được đưa lên đầu –
điều này ai cũng biết rồi. Vậy đối với một bài chuyên sâu thì nên viết theo kiểu
gì để hấp dẫn độc giả từ đầu tới cuối, thậm chí có ấn tượng tốt với bài viết và
tác giả để còn… ngóng đọc những bài sau? Trước hết hãy tìm hiểu cách viết
mở đầu và kết thúc.

Không ít bài nêu lên một chủ đề gây chú ý nhưng phần mở đầu quá tầm
thường, đồng nghĩa với khả năng mất một số bạn đọc hoặc khiến họ có ấn
tượng không hay. Trong khi đó, có nhiều trường hợp phóng viên viết được
phần mở đầu rất tốt, cách dẫn giải câu chuyện cũng rất logic nhưng đến phần
kết lại hụt hẫng, thậm chí cụt.

Nhiều người cho rằng ai viết văn hay thì làm báo giỏi. Điều này chưa chắc nếu
phong cách viết văn được “bê” nguyên xi vào trong báo. Nhiều nhà văn quen
với kiểu tả tình tả cảnh, trong khi báo chí đòi hỏi đề cập trực tiếp vào vấn đề.
Nhưng nếu nhà báo chỉ thuần túy phát hiện thông tin giỏi mà không biết đặt vấn

đề, không biết dẫn dắt người đọc đi đến hết câu chuyện thì cũng không đạt
được mục đích của mình.

Mở đầu hay không phải chuyện đơn giản nhưng ít ra nó còn được chú ý nhiều,
chứ phần kết thì nhiều khi bị coi nhẹ. Thực ra, mở đầu và kết bài đều có ý
nghĩa lớn. Mở bài tốt giúp cho người đọc thấy quan tâm hơn đến bài vào và
tiếp tục tìm hiểu nó, một câu kết hay sẽ khiến độc giả có cảm tưởng về một bài
viết “hoàn thiện”.

8

Một số gợi ý:

Mở đầu

Đây không phải là một đoạn mở đầu dài dòng giới thiệu sự việc, nhân vật, hay
vấn đề, mà là ngược lại nó phải tóm được độc giả! Đây là một trong những
đoạn khó viết nhất trong một bài báo. Những không phải bao giờ bạn cũng có
cảm hứng khi đặt bút viết. Chính vì thế phải đặt ra câu hỏi: làm thế nào thu hút
được người đọc? Làm thế nào để đưa ra “cú đấm quyết định” cho bài báo của
mình?

Đanh thép, cô đọng, nhịp nhàng, đó nhất thiết phải là một câu ngắn. Các từ
ngữ đi thẳng vào vấn đề, sao cho độc giả hiểu ngay chủ đề của bài báo. Mở
đầu phải độc lập với các tít và viết một cách tự do. Đây là một mẹo viết thu hút
sự quan tâm chú ý của độc giả. Đây là sản phẩm của trí tưởng tượng sáng tạo
của mỗi người.

Sau đây là một số cách viết phổ biến:

• một bức ảnh: định vị sự việc bằng một miêu tả. Độc giả cần được “nhìn
thấy”.
• một trích dẫn: thích hợp khi một hoặc nhiều người được phỏng vấn.
• một câu chuyện: một gia thoại, miễn là có ý nghĩa. Độc giả rất thích.
• một công thức quen thuộc: có liên quan đến chủ đề.
• đổi hướng công thức: thay đổi một từ và dùng một câu nổi tiếng.
• một hình ảnh: hình ảnh này sẽ là biểu tượng của bài.
• một châm ngôn: có thể tự nghĩ ra hoặc lấy trong dân gian.
• một nghịch lý: đề cập tới chủ đề bằng cách không ai ngờ tới.
• một điều kỳ cục: gợi sự tò mò bằng một hình ảnh, một sự việc bất bình
thường hoặc lạ.
• một khẳng định: phải có ý nghĩa hoặc bất ngờ.
• một câu hỏi: không nên lạm dụng và đưa ngay ra câu trả lời.
• một sự tương tự: liên tưởng tới một hình ảnh hoặc kỷ niệm của độc giả.
• một sự mỉa mai, một câu khác thường, một câu chơi chữ…

Trong một tờ báo cần có những mở đầu khác nhau và cần đổi mới. Với loại bài
tin tức dạng hàng ngày thì chỉ cần đưa ra sự việc và thông điệp chủ yếu có tính
thời sự.

Kết bài
Làm thế nào để độc giả có ấn tượng tốt về bài báo? Phần kết của bài không
phải là:

– nơi chúng ta vội vã lướt qua những gì chưa nói trong bài.
– một bài học đạo đức (không nên thêm mắm muối vào bài báo).
– một kết luận của bài văn nghị luận có tính tóm tắt hay tổng hợp.
CÁC KỸ NĂNG SỬ DỤNG TÀI LIỆU TRUYỀN THÔNG ………………………… 171. Cách sử dụng tờ rơi, tờ gấp ………………………………………………………. 172. Cách sử dụng tranh lật ………………………………………………………………. 183. Cách sử dụng áp-phích ……………………………………………………………… 18PH ÇN 4 ……………………………………………………………………………………………. 20C ÁC KỸ NĂNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ TRUYỀN THÔNG ………………………. 201. Máy tính và những ứng dụng ………………………………………………………… 202. Máy ảnh kỹ thuật số ………………………………………………………………….. 203. Máy quay phim …………………………………………………………………………. 204. Cách sử dụng băng cát-xét / đĩa CD / VCD / DVD. …………………………….. 20PH ÇN 5 ……………………………………………………………………………………………. 21PH ƯƠNG PHÁP SINH HOẠT TRUYỀN TH « NG CỘNG ĐỒNG ……………… 211. Giáo dục đào tạo qua bài hát ………………………………………………………………….. 212. Một vài game show : ………………………………………………………………………… 22P hÇn 1C ÁC PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THÔNG1. Phương pháp truyền thông trực tiếp : 1.1. Khái niệm : Là kênh truyền thông được thực thi trực diện giữa người vớingười. Đối tượng của truyền thông trực tiếp hoàn toàn có thể là một hay một nhóm người. Ví dụ : – Tổ chức những buổi chuyện trò về thiên nhiên và môi trường và sức khỏe thể chất con người ( trải qua họp thôn, họp Hội phụ nữ, Đoàn người trẻ tuổi, trò chuyện tạitrường học v.v. ). – Thảo luận nhóm – Đến thăm hộ mái ấm gia đình – Truyền thông với cá thể – Sinh hoạt câu lạc bộ – Làm mẫu thực hành thực tế – Tư vấn v.v. 1.2. Ưu điểm – Người truyền thông hoàn toàn có thể biết được kiến thức và kỹ năng, thái độ và thực hành thực tế củađối tượng như thế nào. Nhờ vậy hoàn toàn có thể kiểm soát và điều chỉnh nội dung, cách truyềnđạt hoặc có giải pháp tác động ảnh hưởng thích hợp với từng đối tượng người tiêu dùng để thay đổihành vi. – Người truyền thông hoàn toàn có thể nhận được thông tin phản hồi từ đối tượng người tiêu dùng dođó hiểu được tâm tư nguyện vọng, tình cảm, thực trạng, khó khăn vất vả của đối tượng người dùng vàdễ dàng nhìn nhận được hiệu suất cao truyền thông. – Truyền thông trực tiếp là kênh truyền thông có hiệu suất cao nhất. Nó quyếtđịnh đến sự biến hóa hành vi của đối tượng người tiêu dùng. 1.3. Hạn chế : – Truyền thông trực tiếp chỉ tiếp cận đến một nhóm đối tượng người tiêu dùng hạn chế, vìvậy khó có đủ nhân lực làm công tác làm việc truyền thông. – Người truyền thông phải có kỹ năng và kiến thức, kỹ năng thiết yếu để cung ứng vớinhu cầu của mọi người dân. – Hiệu quả truyền thông nhờ vào vào năng lực của truyền thông viên. 2. Phương pháp truyền thông gián tiếp2. 1. Khái niệm : Là kênh truyền thông được triển khai qua những phương tiệnthông tin đại chúng như vô tuyến, đài phát thanh, loa truyền thanh, báo, tạp chí, bản tin v.v. và những loại tài liệu truyền thông như áp phích, tờ rơi, tờ gấp v.v. 2.2. Ưu điểm : – Nội dung truyền thông mang tính thống nhất, an toàn và đáng tin cậy và hoàn toàn có thể phát điphát lại nhiều lần. – Có năng lực truyền tin nhanh, đến được nhiều người và nhiều nhóm đốitượng cùng một lúc. – Tạo ra được dư luận và môi trường tự nhiên xã hội thuận tiện cho việc thay đổithái độ và hành vi của đối tượng người tiêu dùng. 2.3. Hạn chế : – tin tức đại chúng chỉ có năng lực phân phối kiến thức và kỹ năng : nếu chỉ thựchiện riêng truyền thông gián tiếp sẽ khó làm đổi khác hành vi của đốitượng. – Khó thu được thông tin phản hồi do đó khó nhìn nhận được hiệu quảtruyền thông. – Đòi hỏi phải có những phương tiện đi lại, trang thiết bị Giao hàng quá trìnhtruyền và nhận tin như đài phát thanh, vô tuyến, đài thu thanh … – Sự phân loại thành 2 kênh truyền thông trực tiếp và gián tiếp chỉ làtương đối. Đôi khi 2 kênh này có sự xen kẽ lẫn nhau. Ví dụ : trong cácbuổi đàm đạo nhóm, chuyện trò với hội đồng, vẫn tích hợp phát những tàiliệu truyền thông hoặc trong những buổi tọa đàm trên truyền hình vẫn cócác đường dây nóng để hoàn toàn có thể giao lưu trực tiếp với người theo dõi … ÎVì vậy, phối hợp cả 2 giải pháp là cách tốt nhất và hiệu suất cao nhất. 3. Các bước cơ bản trong quy trình truyền thông1. Luôn lắng nghe nhu yếu của đối tượng người dùng : Tìm hiểu những điều mà đốitượng đã biết, tin và làm. Hãy khen ngợi nếu họ đã hiểu đúng và đãlàm tốt. 2. Bổ sung những thông tin còn thiếu, miêu tả đúng mực điều đối tượngnên làm và quyền lợi của hành vi mới. 3. Tìm hiểu những khó khăn vất vả mà đối tượng người dùng hoàn toàn có thể gặp phải khi thực hiệnhành vi mới và thỏa luận cách xử lý. 4. Kiểm tra xem đối tượng người dùng có hiểu những gì bạn vừa trao đổi không. 5. Động viên, khuyến khích họ làm theo. 6. Đạt được cam kết về việc họ sẽ làm trong tương lai. PhÇn 2C ÁC KỸ NĂNG TRUYỀN THÔNG CƠ BẢN1. Làm quen và giới thiệuCách 1 : mỗi người lần lượt tự trình làng về mình : tên, tuổi, nghề nghiệp, giacảnh, ý niệm sống, mong đợi. Cách 2 : Phát mỗi người 1 bảng tên, tự ghi tên mình và tự đặt tên đệm cạnh tênmình để gọi tên nhau trong suốt thời hạn hoạt động và sinh hoạt, tập huấn. Cách 3 : Đứng vòng tròn : gọi tên lần lượt từ người này đến người khác, ai biếttên ai đến lượt mình hoàn toàn có thể gọi tên người đó. “ A gọi B ” toàn bộ vỗ tay 2 cái, đếnlượt “ B gọi C ” và cứ thế đến khi mọi người biết tên nhau. Có thể mỗi người đặtbiệt danh cho mình để gọi cho phần vui mừng, ví dụ điển hình “ Bảo bánh bao gọiTường tê tái ”. 2. Kỹ năng ngheRất nhiều người trong tất cả chúng ta có nhiều lúc nghe nhưng không nhập tâm, khiđó chỉ cảm nhận thấy âm thanh dội đến tai nhưng não không giải quyết và xử lý những âmthanhđó thành những thông tin hoàn toàn có thể hiểu được. Hiện tượng này còn gọi là nghebị động. Để những âm thanh đó trở thành những thông tin thì điều kiện kèm theo phải đạtđược là lắng nghe một những dữ thế chủ động. Chúng ta không thao tác gì khác khi nghe ai đó nói nếu không sẽ bị phân tán tưtưởng dẫn đến hiểu không thấu đáoChú ý lắng nghe là biểu lộ sự tôn trọng người nói. Do đó cần phải nhìn vàongười nói chứ không quay đi nơi khác. Trong khi nghe nếu bạn không hiểu hãy i ) hỏi ngay, hoặc ii ) ghi lại và hỏi sau. Nếu âm thanh không đủ to hoặc quá lớn nên ý kiến đề nghị kiểm soát và điều chỉnh. 3. Kỹ năng hỏi – Sử dụng tốt những tiếp xúc không lời : + Loại bỏ những vật cản giữa bạn và đối tượng người dùng ; + Nhìn vào mắt đối tượng người tiêu dùng một cách thân thiện. + Không tỏ ra vội vã ; + Dùng từ ngữ quen thuộc, dễ hiểu + Thái độ, vẻ mặt, dáng điệu, cử chỉ … tương thích. – Hỏi cách câu hỏi một cách ngắn gọn : Có hai loại câu hỏi thường đượcsử dụng là câu hỏi đóng và câu hỏi mở : + Câu hỏi đóng : dành cho những câu vấn đáp “ có ” hoặc “ không ”. Ví dụ : “ Khu vực xung quanh nhà bạn có đặt thùng đựng rác không ? ” “ Bạn đã khi nào tham gia dọn vệ sinh công cộng nơi mái ấm gia đình bạnsinh sống chưa ? ” Câu hỏi đóng đưa lại ít thông tin và đối tượngdễ vấn đáp theo ý của người hỏi. + Câu hỏi mở khởi đầu hoặc kết thúc bằng những từ như : tại sao ? Khinào ? Bao lâu ? Như thế nào ? Cái gì ? Ở đâu ? Ví dụ : “ Hàng ngày, mái ấm gia đình ông / bà làm những gì để giữ vệ sinhmôi trường cho mái ấm gia đình mình ? ”, “ Gia đình ông / bà mua nước sạchtừ đâu ? ”. Câu hỏi mở đem lại nhiều thông tin vì người được hỏiphải vấn đáp dài. Cần sử dụng nhiều câu hỏi mở để khai thác đượcnhiều thông tin đúng chuẩn. – Hưởng ứng và biểu lộ sự chăm sóc bằng cách : + Nhìn vào người đối thoại, gật đầu, mỉm cười tán thưởng. + Sử dụng những lời đệm đơn thuần như “ à ”, “ ừ ”, “ thế à ” v.v. – Nhắc lại những điều mà đối tượng người tiêu dùng đang nói : tốt nhất là hỏi lại một cáchnhẹ nhàng để tránh nhắc lại nguyên văn lời của họ. Điều này giúp ngườinói chú ý quan tâm đến những cảm xúc của mình và thỏa mãn nhu cầu khi được người tahiểu. Nếu bạn hiểu sai người đó hoàn toàn có thể sửa cho bạn. Ví dụ : khi mộtngười nói, “ tôi bị viêm phổi mãn tính vì liên tục hít phải khói bụicủa xí nghiệp sản xuất xi-măng gần nhà ”. Bạn hoàn toàn có thể nhắc lại “ ông bị viêm phổinhưthế, ông đã đi khám ở đâu chưa ? ” – Thông cảm – tỏ ra rằng bạn hiểu những cảm nghĩ của đối tượng người tiêu dùng : thôngcảm có nghĩa là bạn tỏ ra hiểu được những cảm nghĩ của một người. – Tránh dùng những lời phê phán : những từ phê phán như đúng, sai, không tốt, xấu, không thích hợp v.v. Nếu bạn sử dụng những từ này, khihỏi sẽ làm cho đối tượng người tiêu dùng cảm thấy có lỗi hoặc có điều gì sai sót. 4. Kỹ năng nói / trình bầyNói điều người ta muốn nghe chứ không phải nói điều mình muốn nói. – Sử dụng tiếng Việt trong sáng, không pha lẫn những thứ tiếng khác nếukhông lý giải VD : “ Hê lô những bác, ngày hôm nay tôi đến đây để Suppót cácbác về yếu tố môi trường tự nhiên ” so với câu nói thế này sẽ gây một cảm giáckhó chịu cho người nghe. – Cần có thái độ chân thành, trung thực, cởi mở. – Nên sử dụng những cử chỉ, điệu bộ, ( ánh mắt ) khi tiếp xúc để thể hiệnmình đang cố gắng nỗ lực truyền đạt hoặc đang lắng nghe. – Kỹ năng tiếp xúc bằng lời : gợi chuyện, giọng nói, phản ánh, khôi hài … – Luôn quan sát xem có ai đang ngủ gật trong không ? Nếu có : tức làmình đã nói quá dài > 15 phút, và với một chất giọng trầm trầm – ngangngang, nên sẽ tạo một cảm xúc buồn ngủ cho mọi người. -> cách làmhọ tỉnh lại là nói ngắn gọn, tạo sự tham gia bằng việc tương tác với mọingười, đặt những câu hỏi hoặcđưa ra những ví dụ chứng tỏ thực tiễn. – Khi nói cần phải bảo vệ rằng mọi người hoàn toàn có thể nghe rõ, nếu bạn làngười nói nhỏ thì cần sử dụng Micro để tương hỗ. Cần lên, xuống giọngđúng lúc để tạo sự lôi cuốn khi truyền đạt. Đe dọa và uy quyền không có tác dụngVd : “ Nếu bác vi phạm một lần nữa thì chúng tôi sẽ cho bác đi tù đấy ! ” Thay vìcâu nói này, nên lý giải cho bác ấy rõ bác đã sai ở chỗ nào và cách khắcphục là như thế nào. 5. Kỹ năng tổ chức triển khai họp – Cần phải thông tin cho toàn bộ những thành viên trước về nhu yếu của cuộchọp ( thời hạn, khu vực, nội dung vv ) để lên kế hoạc công tác làm việc. – Khuyến khích sự tham gia ngay cả trước khi cuộc họp diễn ra. – Khuyến khích đàm đạo góp phần thay vì công kích hoạc chê bai ý kiếncủa người khác. – Thu ký buổi họp ghi chép những quan điểm và tổng hợp thành biên bản đượcthông qua tại cuối buổi. – Gửi biên bản cuộc họp đến tổng thể những thành viên tham gia – Sau hop : Cần theo dõi những gì đã được quyết định hành động được triển khai haychưa ? Kế quả thế nào ? 6. Kỹ năng chia nhómCách 1 : Kết thân : – Người quản trò hô “ Kết thân ! Kết thân ! ”. Cử tọa : “ Kết mấy ? Kết mấy ? ”. – Người quản trò : ( nói số người cần kết vòng ) ví dụ : kết 4 kết 4. – Cử tọa : tìm đủ số người để kết. – Người quản trò : lựa chọn số nhóm mình muốn chia. + Ưu điểm : nhanh + Nhược điểm : những người thân trong gia đình nhau tìm để kết với nhau. Cách 2 : đếm sốMọi người đang kết vòng tròn. Lấy một người bất kể làm chuẩn, cho đếm lầnlượt từ 1 đến 5 ví dụ điển hình ( bao nhiê số thứ tự thì chia thành bấy nhiêm nhóm, và liên tục đếm lượt khác từ 1 đến 5, khi người sau cuối có số thì kết thúc. Aimang số nào thì kết vòng theo số đó. Ưu điểm : chọn được những nhóm với những thành viên tự nhiên. Cách 3 : Chia theo màuNgười quản trò : phát bất kể mỗi người 1 phiếu màu hoặc 1 dải khăn màu. Ai cóphiếu hoặc dải dây cùng màu thì trở thành nhóm của nhau. Cho mỗi nhóm đặt1 tên theo chủ đề mà người quản trò muốn ( ví dụ : nhóm Đoàn Kết, nhóm ThânÁi, nhóm Tuổi trẻ v.v. ). Mỗi nhóm sẽ có tên mới để tham gia những hoạt độngcùng nhau. 7. Kỹ năng tổ chức triển khai tranh luận nhómThảo luận nhóm nhằm mục đích tìm ra giải pháp xử lý những yếu tố mà được cảnhóm nhất trí. Các bước – Chuẩn bị câu hỏi tranh luận nhóm, và 1 số ít gợi ý mang đặc thù địnhhướng nếu nhận thấy những nhóm chưa thật hiểu câu hỏi. – Phân nhóm bàn luận ( xem phần kỹ năng phân nhóm ở dưới ) – Đọc những câu hỏi rõ ràng, nếu có từ trình độ hoặc Hán Việt thì cầnphải lý giải cho những nhóm nắm rõ. – Quy định về thời hạn đàm đạo cho những nhóm ( tối thiều là 20 phút ) – Giao cho những nhóm văn phòng phẩm thiết yếu để tương hỗ đàm đạo ( GiấyA0, bút viết, thước kẻ, vv ) – Các nhóm tự bầu ra trưởng nhóm và thư ký ghi chép. – Thể hiện tác dụng tranh luận trên giấy hoặc máy chiếu – Các nhóm trình bầy luận bàn, bổ trợ của thành viên – Ý kiến nhận xét của những nhóm khác và phản hồi của chủ tọa / tương hỗ viên. Lưu ý : Động viên mọi người phát biểu, khôn khéo ngăn bớt những phát biểu quádài, tổng hợp quan điểm đi đến Tóm lại một cách rõ ràng, mạch lạc. 8. Kỹ năng viết bài cho bản tin, báoNguyên tắc – Viết câu ngắn gọn, rõ ràng, có dẫn dắt Æ chứng tỏ Ænhận định – Xác định rõ trước mình sẽ viết cái gì và viết cho ai ? – Không áp đặt quan điểm cá thể cho người khác – Không chỉ trích hoặc gây tác động ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức triển khai / cá nhânkhác. – Không phản hồi đến những yếu tố chính trị, và những yếu tố nhậy cảmMở đầu và kết thúcĐối với một tin tức, thông tin quan trọng nhất khi nào cũng được đưa lên đầu – điều này ai cũng biết rồi. Vậy so với một bài nâng cao thì nên viết theo kiểugì để mê hoặc fan hâm mộ từ đầu tới cuối, thậm chí còn có ấn tượng tốt với bài viết vàtác giả để còn … ngóng đọc những bài sau ? Trước hết hãy khám phá cách viếtmở đầu và kết thúc. Không ít bài nêu lên một chủ đề gây chú ý quan tâm nhưng phần mở màn quá tầmthường, đồng nghĩa tương quan với năng lực mất 1 số ít bạn đọc hoặc khiến họ có ấntượng không hay. Trong khi đó, có nhiều trường hợp phóng viên báo chí viết đượcphần khởi đầu rất tốt, cách dẫn giải câu truyện cũng rất logic nhưng đến phầnkết lại hụt hẫng, thậm chí còn cụt. Nhiều người cho rằng ai viết văn hay thì làm báo giỏi. Điều này chưa chắc nếuphong cách viết văn được ” bê ” nguyên xi vào trong báo. Nhiều nhà văn quenvới kiểu tả tình tả cảnh, trong khi báo chí truyền thông yên cầu đề cập trực tiếp vào yếu tố. Nhưng nếu nhà báo chỉ thuần túy phát hiện thông tin giỏi mà không biết đặt vấnđề, không biết dẫn dắt người đọc đi đến hết câu truyện thì cũng không đạtđược mục tiêu của mình. Mở đầu hay không phải chuyện đơn thuần nhưng ít ra nó còn được quan tâm nhiều, chứ phần kết thì nhiều khi bị coi nhẹ. Thực ra, mở màn và kết bài đều có ýnghĩa lớn. Mở bài tốt giúp cho người đọc thấy chăm sóc hơn đến bài vào vàtiếp tục khám phá nó, một câu kết hay sẽ khiến fan hâm mộ có cảm tưởng về một bàiviết ” triển khai xong “. Một số gợi ý : Mở đầuĐây không phải là một đoạn mở đầu dài dòng ra mắt vấn đề, nhân vật, hayvấn đề, mà là ngược lại nó phải tóm được fan hâm mộ ! Đây là một trong nhữngđoạn khó viết nhất trong một bài báo. Những không phải khi nào bạn cũng cócảm hứng khi đặt bút viết. Chính cho nên vì thế phải đặt ra câu hỏi : làm thế nào thu hútđược người đọc ? Làm thế nào để đưa ra ” cú đấm quyết định hành động ” cho bài báo củamình ? Đanh thép, cô đọng, uyển chuyển, đó nhất thiết phải là một câu ngắn. Các từngữ đi thẳng vào yếu tố, sao cho fan hâm mộ hiểu ngay chủ đề của bài báo. Mởđầu phải độc lập với những tít và viết một cách tự do. Đây là một mẹo viết thu hútsự chăm sóc quan tâm của fan hâm mộ. Đây là mẫu sản phẩm của trí tưởng tượng sáng tạocủa mỗi người. Sau đây là một số ít cách viết phổ cập : • một bức ảnh : xác định vấn đề bằng một miêu tả. Độc giả cần được ” nhìnthấy “. • một trích dẫn : thích hợp khi một hoặc nhiều người được phỏng vấn. • một câu truyện : một gia thoại, miễn là có ý nghĩa. Độc giả rất thích. • một công thức quen thuộc : có tương quan đến chủ đề. • đổi hướng công thức : đổi khác một từ và dùng một câu nổi tiếng. • một hình ảnh : hình ảnh này sẽ là hình tượng của bài. • một châm ngôn : hoàn toàn có thể tự nghĩ ra hoặc lấy trong dân gian. • một nghịch lý : đề cập tới chủ đề bằng cách không ai ngờ tới. • một điều kỳ cục : gợi sự tò mò bằng một hình ảnh, một vấn đề bất bìnhthường hoặc lạ. • một khẳng định chắc chắn : phải có ý nghĩa hoặc giật mình. • một câu hỏi : không nên lạm dụng và đưa ngay ra câu vấn đáp. • một sự tương tự như : liên tưởng tới một hình ảnh hoặc kỷ niệm của fan hâm mộ. • một sự mỉa mai, một câu khác thường, một câu chơi chữ … Trong một tờ báo cần có những khởi đầu khác nhau và cần thay đổi. Với loại bàitin tức dạng hàng ngày thì chỉ cần đưa ra vấn đề và thông điệp hầu hết có tínhthời sự. Kết bàiLàm thế nào để fan hâm mộ có ấn tượng tốt về bài báo ? Phần kết của bài khôngphải là : – nơi tất cả chúng ta vội vã lướt qua những gì chưa nói trong bài. – một bài học kinh nghiệm đạo đức ( không nên thêm mắm muối vào bài báo ). – một Kết luận của bài văn nghị luận có tính tóm tắt hay tổng hợp .

Source: https://iseo1.com
Category: Marketing

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *