Hiệp ước Nhâm Tuất – Bách khoa Toàn thư Việt Nam

Hoàn cảnh sinh raSau khi hoàn thành xong đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ ( đầu năm 1862 ), tướng Pháp là Bôna đã nhân thời cơ vua Tự Đức muốn “ nghị hòa ”, cùng với những đại diện thay mặt của triều đình Huế là Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp ký hiệp ước Nhâm Tuất ngày 5/6/1862 .Về phía quân Pháp, dù đánh thắng và chiếm được đất, nhưng nghị hòa sớm ngày nào thì sẽ có lợi. Thực tế trên mặt trận Nam Kỳ chúng không đủ binh sĩ để chiếm rộng ra và bình định những nơi đã chiếm được trước sự tiến công kinh khủng và bền chắc của quân ta. Dư luận nước Pháp cũng chưa nhất trí về việc xâm lăng Nước Ta. Trong điều kiện kèm theo đó, thực dân Pháp chỉ mong ký kết hòa ước với triều đình Huế để vừa giữ nguyên những vùng đất đã chiếm, vừa có thời hạn sẵn sàng chuẩn bị để lan rộng ra khoanh vùng phạm vi chiếm đóng .

Với tình hình đó, cuộc nghị hòa diễn ra nhanh chóng. Ngày 5/5/1862, phái viên của Bonard đem thư nghị hòa ra Huế thì đúng 1 tháng sau, ngày 5/6/1862, Hòa ước đã được ký kết tại Sài Gòn.

Nội dung Hòa ướcNội dung Hòa ước Nhâm Tuất ngày 5/6/1862 được ký kết gồm 12 pháp luật :1. Từ khi hai nước Pháp và Tây Ban Nha ký hòa ước với nước Nước Ta, nhân dân ba nước không kể người nào ở địa phương nào, đều đối xử với nhau trên tình hữu nghị vĩnh viễn .2. Vua Nước Ta phải bỏ lệnh cấm đạo trên toàn chủ quyền lãnh thổ. Ai muốn theo đạo cũng cho, ai không muốn theo cũng không bắt buộc .3. Ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và hòn đảo Côn Lôn giao cho nước Pháp quản hạt. Thuyền buôn của Pháp chạy trên biển, trên sông, lên Cao Miên kinh doanh đều được tự do .4. Từ sau khi ký hòa ước, nếu có nước khác đến lập quan hệ ngoại giao với nước Nước Ta, thì nước Pháp cũng coi nước ấy là bạn. Nhưng trước khi quyết định hành động, nhà nước Nước Ta nên hỏi quan điểm nước Pháp. Nếu nước Pháp chấp thuận đồng ý mới được .5. Triều đình Huế phải mở 3 cửa biển TP. Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho tàu Pháp và Tây Ban Nha sang kinh doanh .6. Nếu người nước khác đến kinh doanh ở nước Nam, thì những quan nước Nam không được tư vị giúp sức hơn 2 nước Pháp và Tây Ban Nha. Nếu có sự ích lợi gì về kinh doanh dành cho những nước khác thì cũng dành cho Pháp và Tây Ban Nha. Nếu có việc công khẩn nhu yếu bàn luận thì đều phái viên Khâm sai đại thần hoặc họp ở kinh đô nước Nam hoặc ở kinh đô hai nước kia mới được .

7. Khi có tàu hai nước Pháp và Tây Ban Nha đến Đà Nẵng thì dừng dại. Viên Khâm sứ sẽ theo đường bộ đi ra kinh đô Huế. Sau khi ký hòa ước, người và tài sản bị Pháp bắt giữ đều thả và trả hết. Ngược lại, triều đình cũng không bắt tội những người đã hợp tác.

8. Triều đình Huế phải bồi thường chiến phí cho Pháp và Tây Ban Nha là 4 triệu đô la, trả trong 10 năm, mỗi năm 40 vạn, nộp cho Pháp tại Hồ Chí Minh. Vì Nước Ta không dùng đô la nên pháp luật 1 đô la bằng 0,72 lạng bạc .9. Nếu có bọn trộm cướp làm giặc quấy rối tại vùng thuộc chính quyền sở tại Pháp mà trốn sang miền chủ quyền lãnh thổ thuộc chính quyền sở tại nước Nam, khi có giấy tư sang của quan chức Pháp thì những quan chức Nam bắt giao cho chính quyền sở tại Pháp giải quyết và xử lý, và ngược lại .10. Từ sau khi ký hòa ước, nhân dân 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên qua kinh doanh trên phần đất thuộc Pháp, nạp đủ thuế khóa thì được tự do. Nếu vì việc công mà quân lính, lương thực, súng đạn, khí giới muốn qua lại cửa tiểu để chuyên chở, chính quyền sở tại Pháp cũng chuẩn cho .11. Nước Pháp sẽ trả lại tỉnh thành Vĩnh Long cho triều đình Huế, một khi triều đình Huế chấm hết được những cuộc khởi nghĩa và gọi những quan chức chống Pháp đang hoạt động giải trí trong 2 tỉnh Định Tường và Gia Định về .12. Sau khi đại diện thay mặt 3 nước là Pháp, Tây Ban Nha và Nước Ta ký vào bản hòa ước thì bản hòa ước khởi đầu có hiệu lực hiện hành. Hạn trong 1 năm vua ban nước phê chuẩn rồi giao nhau tại kinh đô nước Nam để lưu chiểu .Ý nghĩaVới việc ký kết Hòa ước năm 1862, làn sóng đấu tranh phản đối triều đình thỏa hiệp, cắt đất cho Pháp dâng lên can đảm và mạnh mẽ hơn khi nào hết. Hơn nữa, việc ký kết Hiệp ước đã tạo bàn đạp cho Pháp lan rộng ra lấn chiếm hàng loạt Nam Kỳ .

Tài liệu tham khảo

1. Dương Kinh Quốc ( 2001 ), Nước Ta – Những sự kiện lịch sử vẻ vang, Nxb. Giáo dục đào tạo, TP.HN .2. Viện Hàn lâm khoa học xã hội, Viện sử học, Võ Kim Cương ( năm nay ), Lịch sử Nước Ta tập 6, Nxb. Khoa học xã hội, TP.HN .3. Viện sử học ( 1975 ), Đại Nam Thực Lục tập 33, Nxb. Khoa học Xã hội, HN .

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.