Một số vấn đề về án treo và áp dụng án treo theo luật hình sự Việt Nam

Một số yếu tố về án treo và vận dụng án treo theo luật hình sự Nước TaMột số yếu tố về án treo và vận dụng án treo theo luật hình sự Nước Ta

PGS. TS. Trần Văn Độ
Th.S.NCS. Hoàng Ngọc Anh

1. Quy định của pháp luật và nhận thức về án treo

1.1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015 về án treo

Án treo là chế định quan trọng của luật hình sự. Chế định này có trong pháp luật hình sự ( PLHS ) những vương quốc cũng như ở nước ta từ rất lâu. Dù việc bộc lộ, hay diễn đạt có khác nhau trong pháp lý của mỗi vương quốc, nhưng án treo đều được pháp luật trong PLHS .
Bộ luật Hình sự ( BLHS ) năm 1999 ( Điều 60 ) và BLHS năm năm ngoái ( Điều 65 ) pháp luật án treo như thể giải pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, trong đó có điều kiện để vận dụng án treo và điều kiện thử thách của án treo. Theo đó, khi xử phạt tù không quá ba năm, địa thế căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và những diễn biến giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời hạn thử thách từ một đến năm năm .
So sánh pháp luật của hai Bộ luật, chúng tôi thấy, BLHS năm năm ngoái cơ bản vẫn giữ ý thức của BLHS năm 1999 về thực chất án treo, điều kiện vận dụng và điều kiện thử thách của án treo, nhưng bổ trợ ngặt nghèo hơn một số ít nội dung để bảo vệ cho việc vận dụng chế định này hiệu suất cao hơn trên trong thực tiễn. Đó là :
– Quy định Tòa án có nghĩa vụ và trách nhiệm tuyên buộc người được hưởng án treo thực thi những nghĩa vụ và trách nhiệm luật định ;
– Không hạn chế loại hình phạt bổ trợ hoàn toàn có thể vận dụng so với người được hưởng án treo ;
– Điều kiện thử thách của án treo được bổ trợ : Ngoài không phạm tội mới trong thời hạn thử thách, người được hưởng án treo không được cố ý vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm án treo từ 02 lần trở lên. Nếu người được hưởng án treo phạm tội mới, thì phải chấp hành hình phạt chung là hình phạt tù được miễn chấp hành và hình phạt so với tội mới ; nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm 02 lần trở lên, thì hoàn toàn có thể bị buộc chấp hành hình phạt tù .

1.2. Nhận thức về án treo

1.2.1. Nhận thức về thực chất và vai trò của án treo
Dù pháp luật của pháp lý có những đổi khác về cách diễn đạt, nhưng thực chất của án treo cũng không hề đổi khác. Theo PLHS nước ta, án treo là giải pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Điều này có nghĩa rằng :
– Án treo chỉ được vận dụng so với người bị phán quyết phạt tù [ 1 ] ;
– Người bị phán quyết phạt tù không phải chấp hành hình phạt tù trên thực tiễn nếu chấp hành đúng điều kiện thử thách luật định .
Như vậy, chế định án treo bộc lộ chủ trương hình sự nhân đạo, hướng thiện, coi trọng tính phòng ngừa của Nhà nước ta. Cần phải coi án treo như thể một quyền của người bị phán quyết phạt tù khi có đủ điều kiện lao lý ; mà không nên coi đó như là “ một đặc ân mà Tòa án ban phát ” cho người đó .
Ngoài tính nhân đạo, tình hướng thiện của án treo bộc lộ ở chỗ, không riêng gì Tòa án tạo cho người phạm tội điều kiện xã hội tốt nhất để nhận thức lỗi lầm và tự giáo dục, tái tạo mình ; mà còn không đẩy người đó và mái ấm gia đình đến những hậu quả pháp lý, đạo đức, xã hội bất lợi, do phải chấp hành hình phạt tù .
Tính phòng ngừa của án treo không chỉ nằm trong việc giáo dục riêng, để người bị phán quyết không phạm tội mới ; án treo cũng khó có giá trị răn đe cao như phạt tù, tử hình … mà giá trị phòng ngừa của án treo biểu lộ bằng việc không buộc người bị phán quyết chấp hành hình phạt tù trên trong thực tiễn, Tòa án và pháp lý không tạo ra những hậu quả xấu đi mà xã hội, mái ấm gia đình, cá thể người bị phán quyết phải gánh chịu hoàn toàn có thể dẫn những thành viên khác đến con đường phạm tội. Ví dụ, một người chủ mái ấm gia đình phải chấp hành hình phạt tù, dẫn đến mái ấm gia đình mất nguồn thu nhập chính, con cháu vắng người giáo dưỡng, sự tẩy chay của xã hội so với người đó và thành viên mái ấm gia đình, nhất là con trẻ, việc tái hòa nhập sau khi chấp hành xong hình phạt tù cũng rất khó khăn vất vả … Tất cả hậu quả đó hoàn toàn có thể làm mái ấm gia đình trở nên nghèo nàn, con cháu thất học, tự ti … đây chính là nguyên do hoàn toàn có thể làm phát sinh tội phạm mới .
1.2.2. Nhận thức về những điều kiện vận dụng án treo
Để vận dụng và chấp hành án treo đúng, việc nhận thức đúng đắn điều kiện vận dụng án treo và điều kiện thử thách án treo có ý nghĩa rất quan trọng .
* Về điều kiện vận dụng án treo
Khoản 1 Điều 65 BLHS năm ngoái lao lý : “ Khi xử phạt tù không quá 03 năm, địa thế căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và những diễn biến giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo … ”. Như vậy, việc vận dụng án treo có những điều kiện cần và đủ sau đây :
– Thứ nhất, người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm. Luật không hạn chế đó là loại tội gì. Tuy nhiên, hoàn toàn có thể nói, đó hoàn toàn có thể là tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng. Đối với tội đặc biệt quan trọng nghiêm trọng, thì chỉ hoàn toàn có thể vận dụng so với người đồng phạm với vai trò giúp sức không đáng kể sau khi đã vận dụng khoản 2 Điều 54 BLHS năm năm ngoái. Để quyết định hành động hình phạt tù so với người phạm tội, Hội đồng xét xử địa thế căn cứ vào những nguyên tắc, pháp luật chung về những địa thế căn cứ quyết định hành động hình phạt trong BLHS .

– Thứ hai, căn cứ vào các đặc điểm nhân thân người phạm tội. Ở đây, rất cần lưu ý một vấn đề là, hiểu thế nào cho đúng về nhân thân người phạm tội để cho hưởng án treo? Điều luật quy định “căn cứ vào nhân thân của người phạm tội, nếu xét thấy không cần thiết bắt chấp hành hình phạt tù…”. Như vậy, Điều luật không hề đòi hỏi người phạm tội phải có nhân thân tốt như nhiều người vẫn quan niệm trong khoa học luật hình sự và thực tiễn gần đây[2]. Nên lưu ý rằng, Điều luật chỉ quy định các đặc điểm nhân thân là thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà thôi; thậm chí, có thời kỳ tình tiết này được hướng dẫn là, chỉ cần người phạm tội “có nhân thân không xấu” là có thể cho hưởng án treo[3]. “Nhân thân tốt” và “nhân thân không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù” tất nhiên không thể là một được. Chính đây là điều kiện cần phải được nhận thức chính xác, hướng dẫn áp dụng thống nhất án treo, mà không thu hẹp phạm vi áp dụng án treo theo tinh thần luật định. Vụ án sau đây là một ví dụ: Nguyễn Văn C làm nghề lái xe ôm, chở vợ đi ăn tiệc cưới. Trên đường chở vợ về nhà, do không làm chủ tay lái do uống rượu, C đâm phải mố cầu làm cả 2 vợ chồng rơi xuống sông; hậu quả là vợ C chết. Về nhân thân, trước đó vài tháng, C đã bị xử phạt hành chính vì vi phạm quy định về an toàn giao thông; C có 2 con nhỏ (7 tuổi và 4 tuổi); gia đình thân thích nội và ngoại không còn ai… Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng, mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng nhân thân không tốt, nên đã xử phạt C 03 năm tù về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo khoản 2 Điều 202 BLHS năm 1999. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo. Tòa án cấp phúc thẩm đã quyết định cho bị cáo C hưởng án treo, vì cho rằng “không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù để có điều kiện nuôi dạy các con còn nhỏ”. Trong vụ án này, rõ ràng Tòa án cấp phúc thẩm đã quán triệt đúng đắn quy định của Điều 60 BLHS năm 1999 về điều kiện nhân thân; Bị cáo C có nhân thân không tốt, nhưng nhân thân đó là không cần bắt phải chấp hành hình phạt tù theo luật định.

Khi xét xử, việc nhìn nhận của Tòa án thế nào là “ không thiết yếu bắt chấp hành hình phạt tù ” xuất phát từ những yếu tố nhân thân người phạm tội và những diễn biến khác của vụ án, nhu yếu phòng, chống tội phạm … Tòa án thấy không cần bắt chấp hành hình phạt tù, nếu người đó hoàn toàn có thể tự giáo dục, tái tạo và nếu không cách ly người đó, thì cũng không gây nguy hại cho xã hội ; người đó sẽ không phạm tội tiếp hoặc tiếp tục vi phạm pháp lý khác. Việc nhìn nhận điều kiện nhân thân chính là yếu tố tùy nghi duy nhất trong xác lập điều kiện cho hưởng án treo .
– Thứ ba, Điều luật pháp luật “ địa thế căn cứ những tình tiết giảm nhẹ ”. Như vậy, để vận dụng án treo, người phạm tội cần có nhiều diễn biến giảm nhẹ. Khác với khoản 1 Điều 54 BLHS năm năm ngoái, khi quyết định hành động hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, người phạm tội phải có tối thiểu hai tình tiết giảm nhẹ pháp luật tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm năm ngoái ; khoản 1 Điều 65 BLHS năm năm ngoái không lao lý địa thế căn cứ cho hưởng án treo phải là những tình tiết giảm nhẹ lao lý tại khoản 1 Điều 51. Theo chúng tôi, việc nhận thức điều kiện bắt buộc người phạm tội có tình tiết giảm nhẹ pháp luật tại khoản 1 Điều 51 là thu hẹp khoanh vùng phạm vi vận dụng án treo theo luật định .
Điều 65 BLHS năm năm ngoái cũng không có lao lý gì về diễn biến tăng nặng nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự ( TNHS ). Theo chúng tôi, những diễn biến tăng nặng đã được xem xét trong quyết định hành động hình phạt tù rồi, nên không hề nhìn nhận một lần nữa khi cho hưởng án treo khi khoản 1 Điều 65 không lao lý [ 4 ]. Vì vậy, thực tiễn hướng dẫn bắt buộc đối trừ diễn biến giảm nhẹ với diễn biến tăng nặng TNHS trong xác lập điều kiện cho hưởng án treo là thiếu hài hòa và hợp lý, không đúng với lao lý của Điều 65 BLHS [ 5 ]. Tòa án chỉ hoàn toàn có thể nhìn nhận những diễn biến tăng nặng TNHS như thể những diễn biến của vụ án để xác lập có bắt người bị phán quyết chấp hành hình phạt tù hay không mà thôi .
Nói tóm lại, Điều 65 BLHS năm năm ngoái chỉ lao lý ba địa thế căn cứ ( điều kiện ) vận dụng án treo là mức phạt tù không quá 03 năm ; những đặc thù nhân thân thấy không cần buộc chấp hành hình phạt tù ; có nhiều diễn biến giảm nhẹ TNHS. Tòa án nhìn nhận những điều kiện đó trong từng vụ án đơn cử để quyết định hành động cho người bị phán quyết phạt tù hưởng án treo. Việc bổ trợ thêm bất kể điều kiện nào khác ngoài khoản 1 Điều 65 BLHS năm năm ngoái là thu hẹp trái pháp lý khoanh vùng phạm vi vận dụng án treo. Một khi Tòa án xác lập có vừa đủ ba điều kiện nêu trên thì bắt buộc phải cho người bị phán quyết hưởng án treo ( … thì Tòa án cho hưởng án treo ), chứ không phải là tùy nghi, Tòa án chỉ hoàn toàn có thể cho hưởng án treo .
* Về điều kiện thử thách của án treo
Theo Điều 65 BLHS năm năm ngoái, có hai điều kiện thử thách của án treo :
– Điều kiện thứ nhất : Người được hưởng án treo không phạm tội mới trong thời hạn thử thách. Điều kiện này được pháp lý nước ta lao lý từ rất sớm. Tuy nhiên, chưa ổn ở đây là thời hạn thử thách được tính từ thời gian bản án cho hưởng án treo có hiệu lực thực thi hiện hành pháp lý. Có 3 năng lực xảy ra : ( 1 ) Bản án xét xử sơ thẩm cho hưởng án treo không bị kháng nghị, kháng nghị ; ( 2 ) Bản án xét xử sơ thẩm bị kháng nghị, kháng nghị và bản án cấp phúc thẩm chuyển từ tù giam sang án treo và ( 3 ) Tòa án cấp giám đốc thẩm sửa bản án bị kháng nghị và cho hưởng án treo. Tương ứng với 3 trường hợp đó là 3 thời hạn khác nhau và năng lực phạm tội mới của người phạm tội dài ngắn khác nhau. Hiện nay, đã có hướng dẫn cách tính thời gian mở màn thời hạn thử thách của án treo so với bản án xét xử sơ thẩm, phúc thẩm ; nhưng chưa có hướng dẫn so với quyết định hành động giám đốc thẩm .
– Điều kiện thứ hai : Người được hưởng án treo không được cố ý vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm theo pháp luật của Luật Thi hành án hình sự ( Luật THAHS ) 02 lần trở lên. Nghĩa vụ của người được hưởng án treo được lao lý tại Điều 87 Luật THAHS năm 2019. Theo Điều 87 của Luật, người được hưởng án treo có sáu nhóm nghĩa vụ và trách nhiệm, trong đó có một nhóm là nghĩa vụ và trách nhiệm về hành vi ( cách xử sự ), năm nhóm còn lại là nghĩa vụ và trách nhiệm về thủ tục. Vậy, vi phạm những nghĩa vụ và trách nhiệm gì, thì được coi là vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm án treo ?
* Hậu quả của việc vi phạm điều kiện thử thách
Người vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm thử thách của án treo đều phải chịu hậu quả pháp lý là buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Tuy nhiên, trong trường hợp phạm tội mới trong thời hạn thử thách, hậu quả này là bắt buộc ; còn trong trường hợp cố ý vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm án treo, hậu quả chỉ là tùy nghi theo quyết định hành động của Tòa án. Như vậy, trường hợp thứ hai cần được hướng dẫn ngặt nghèo để bảo vệ vận dụng thống nhất pháp lý .
Theo chúng tôi, nên chăng, chỉ khi người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm pháp luật tại khoản 2 Điều 87 Luật THAHS mới biểu lộ thái độ tuân thủ pháp lý và nghĩa vụ và trách nhiệm công dân và việc vi phạm nghĩa vụ và trách nhiệm đó có mạng lưới hệ thống mới là địa thế căn cứ để Tòa án vận dụng khoản 5 Điều 65 BLHS năm năm ngoái .

2. Thực tiễn hướng dẫn và áp dụng án treo những năm qua

2.1. Thực tiễn hướng dẫn áp dụng án treo

Kể từ khi phát hành BLHS năm 1985 đến nay, lao lý về án treo có 03 lần sửa đổi ; nhưng đã có 13 lần được Tòa án nhân dân tối cao ( TANDTC ) và những cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn vận dụng, trong đó có 07 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, 02 Thông tư liên tịch và còn lại là những Công văn, Kết luận của Chánh án TANDTC .
Nhìn chung, không cho chủ trương hình sự của từng thời kỳ tăng trưởng quốc gia và nhu yếu đấu tranh phòng, chống tội phạm, xuất phát từ thực tiễn, những cơ quan có thẩm quyền đã bám sát lao lý của Điều 44 BLHS năm 1985, Điều 60 BLHS năm 1999, Điều 65 BLHS năm năm ngoái để hướng dẫn những Tòa án nhận thức và vận dụng thống nhất pháp lý, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn .

Tuy nhiên, cũng qua thực tiễn thực hiện và nhận thức sâu sắc hơn quy định của BLHS, có những hướng dẫn vẫn còn gây ra những tranh luận trong nhận thức, khó khăn trong thực tiễn áp dụng, chưa thật phù hợp với bản chất của án treo, chưa bám sát chính sách hình sự của Nhà nước ta, nhất là chính sách hình sự trong từng thời kỳ phát triển của đất nước.

Trong bài viết này, chúng tôi xin nghiên cứu và phân tích, nhìn nhận sâu hơn về Nghị quyết số 02/2018 / NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn vận dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo ( Nghị quyết số 02/2018 / NQ-HĐTP ) .
Theo chúng tôi, Nghị quyết số 02/2018 / NQ-HĐTP là văn bản hướng dẫn tương đối tổng lực, chi tiết cụ thể về việc vận dụng án treo ; tháo gỡ được nhiều vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án những cấp .
Tuy nhiên, xuất phát từ thực chất, điều kiện án treo theo luật định, chủ trương hình sự hướng thiện, coi trọng phòng ngừa, hạn chế giam giữ trong cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49 – NQ / TW … thì theo chúng tôi, 1 số ít nội dung cần được trao đổi thêm. Đó là :
– Thứ nhất, về điều kiện vận dụng án treo
+ Theo Điều 2 Nghị quyết số 02/2018 / NQ-HĐTP thì người bị xử phạt tù hoàn toàn có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ điều kiện luật định. Theo pháp luật của Điều 65 BLHS năm năm ngoái, thì án treo là chế định bắt buộc ( thì Tòa án cho hưởng án treo ), chứ không phải là chế định tùy nghi ( không phải thì Tòa án hoàn toàn có thể cho hưởng án treo ) ; vì vậy khi có đủ điều kiện luật định, Tòa án bắt buộc phải cho người bị phán quyết phạt tù hưởng án treo. Nhận thức tính tùy nghi trong vận dụng án treo hoàn toàn có thể dẫn đến sự tùy tiện, thiếu thống nhất, thậm chí còn xấu đi trong thực tiễn vận dụng án treo .
+ Một số hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018 / NQ-HĐTP cũng cần được xem xét lại xem có vượt ra ngoài lao lý của Điều 65 BLHS năm năm ngoái hay không :
( 1 ) Chỉ vận dụng án treo so với người có nhân thân tốt. Hướng dẫn này liệu có trái với pháp luật tại khoản 1 Điều 65 BLHS năm năm ngoái như chúng tôi đã nghiên cứu và phân tích trên .
Do ý niệm người được hưởng án treo phải là người có nhân thân tốt, cho nên vì thế Nghị quyết đã hướng dẫn không vận dụng án treo so với người tái phạm mà không phân biệt là tái phạm tội gì, người phạm hai tội … Hướng dẫn một cách cứng ngắc như vậy trong thực tiễn đã thu hẹp khoanh vùng phạm vi vận dụng án treo là không thiết yếu. Ví dụ : Theo Nghị quyết số 02/2018 / NQ-HĐTP thì người phạm tội trộm cắp gia tài hai lần trở lên vẫn hoàn toàn có thể cho hưởng án treo ; nhưng người phạm hai tội ( trộm cắp gia tài 02 triệu đồng và lạm dụng tin tưởng chiếm đoạt gia tài 04 triệu đồng hoặc vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến gia tài 100 triệu đồng ) lại không được cho hưởng án treo .
( 2 ) Việc khấu trừ diễn biến tăng nặng vào diễn biến giảm nhẹ để xác lập có nhiều tình tiết giảm nhẹ ( điểm 3 Điều 2 Nghị quyết ) thỏa mãn nhu cầu điều kiện vận dụng án treo hay không ? đặc thù, mức độ nguy hại của tội phạm, những diễn biến tăng nặng, giảm nhẹ, diễn biến nhân thân biểu lộ tính nguy khốn của người phạm tội … đã được làm địa thế căn cứ để quyết định hành động hình phạt tù .
Theo chúng tôi, nhìn nhận đặc thù của vụ án, những diễn biến giảm nhẹ và nhân thân người phạm tội để quyết định hành động cho hưởng án treo hay không ( tức có cần bắt người bị phán quyết chấp hành hình phạt tù hay không ) khác trọn vẹn với nhìn nhận đặc thù, mức độ nguy khốn của tội phạm, nhân thân người phạm tội, những diễn biến giảm nhẹ, tăng nặng TNHS để lựa chọn loại và mức hình phạt vận dụng so với bị cáo. Hay nói cách khác, người làm luật lao lý địa thế căn cứ quyết định hành động hình phạt và địa thế căn cứ miễn chấp hành hình phạt tù đã được quyết định hành động khác nhau .
Điều 65 BLHS năm năm ngoái không hề đề cập đến diễn biến tăng nặng TNHS, vì vậy người hướng dẫn cũng không nên sử dụng diễn biến tăng nặng để hạn chế việc vận dụng biện pháp nhân đạo này .
( 3 ) Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018 / NQ-HĐTP hướng dẫn không vận dụng án treo so với : “ Người phạm tội là người chủ mưu, đứng đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có đặc thù chuyên nghiệp, tận dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt quan trọng nghiêm trọng ”. Theo chúng tôi, nghiêm trị không đồng nghĩa tương quan với không cho hưởng án treo. Nghiêm trị là xử phạt ở mức cao trong khung hình phạt pháp luật. Mà trong BLHS, có nhiều khung hình phạt được pháp luật rất nhẹ, tối đa không quá 03 năm tù, thậm chí còn có nhiều chế tài không lao lý phạt tù. Cho nên, so với những người trên, trong từng vụ án đơn cử so với từng tội phạm đơn cử, cần để Hội đồng xét xử nhìn nhận một cách khách quan, tổng lực, trên cơ sở pháp luật của Điều luật về án treo để quyết định hành động tương thích. Ví dụ, phải chăng người chủ mưu phạm những tội như : tội làm nhục người khác ( khoản 2 Điều 155 BLHS năm năm ngoái ), tội xâm phạm chỗ ở của người khác ( Điều 158 BLHS năm năm ngoái ), tội xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân ( Điều 160 BLHS năm năm ngoái ) … với mức cao nhất của chế tài là 02 hoặc 03 năm tù ; lại có đủ điều kiện lao lý tại khoản 1 Điều 65 BLHS năm năm ngoái thì vẫn không khi nào được hưởng án treo ?

2.2. Thực tiễn áp dụng án treo trong xét xử của các Tòa án

Án treo là một trong những chế định được vận dụng khá phổ cập trong thực tiễn xét xử của những Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự chiến lược nước ta những năm qua .
Theo khảo sát và tìm hiểu và khám phá của chúng tôi, trong khoảng chừng 10 năm ( 2010 – 2020 ) trở lại đây, tỷ suất bị cáo được hưởng án treo được hạn chế áp dụng so với những năm trước đó ; đặc biệt quan trọng là từ năm năm trước, sau khi Nghị quyết số 01/2013 / NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 hướng dẫn vận dụng Điều 60 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 02/2018 / NQ-HĐTP được phát hành và có hiệu lực thực thi hiện hành. Năm 2008, tỷ suất những bị cáo được hưởng án treo chiếm khoảng chừng 28 % người bị phán quyết ; năm 2013 tỷ suất đó vào khoảng chừng 20 % – 22 % và năm năm nay đến nay tỷ suất người được hưởng án treo khoảng chừng 16 % – 18 %. Việc vận dụng án treo cũng không đồng đều giữa những địa phương, có Tòa án vận dụng chỉ trên 10 % ; nhưng cũng có Tòa án vận dụng trên 30 % số người bị phán quyết .
Kết quả xét xử phúc thẩm cho thấy, số bản án xét xử sơ thẩm bị sửa từ phạt tù chuyển sang cho hưởng án treo thường cao gấp 3 đến 4 lần số bản án xét xử sơ thẩm bị sửa từ án treo sang phạt tù. Như vậy, hoàn toàn có thể nói, những Tòa án cấp xét xử sơ thẩm khá lo lắng trong vận dụng án treo ; nhiều bị cáo đáng lẽ hoàn toàn có thể được hưởng án treo, nhưng Tòa án đã không mạnh dạn quyết định hành động điều đó .
Nhìn chung, cùng với việc không cho niềm tin của pháp lý ; phát hành hướng dẫn vận dụng án treo theo hướng thu hẹp khoanh vùng phạm vi và hạn chế áp dụng án treo, hoạt động giải trí kiểm tra, trấn áp ngặt nghèo, liên tục của TANDTC … những Tòa án đã vận dụng đúng lao lý của Điều 65 BLHS năm năm ngoái, đúng hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018 / NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán .
Tuy nhiên, hiệu quả vận dụng án treo nêu trên gợi cho chúng tôi tâm lý, liệu việc vận dụng án treo như vậy có quá thấp ; đã cung ứng yên cầu của Nghị quyết số 49 – NQ / TW về kế hoạch cải cách tư pháp về chủ trương hình sự hướng thiện, vì con người, coi trọng tính phòng ngừa, hạn chế phạt tù hay chưa ? Đáp ứng chủ trương hình sự nhân đạo hay chưa ? Việc đưa ra thêm những điều kiện ngoài luật để hạn chế áp dụng án treo liệu có hạn chế được xấu đi trong những Tòa án như mong ước hay không … ?
Nhiều năm nghiên cứu và điều tra tình hình xét xử ở nhiều nước, chúng tôi thấy ở những nước, tỷ suất người phạm tội bị phán quyết phạt tù chỉ chiếm 50 % – 60 %. Còn ở Nước Ta, khoảng chừng trên 90 % người phạm tội bị phán quyết phạt tù ; trong đó khoảng chừng 16 % – 18 % người bị phán quyết phạt tù được cho hưởng án treo ; còn lại khoảng chừng gần 80 % người bị phán quyết phải chấp hành hình phạt tù. Một tỷ suất quá cao so với nhiều nước trên quốc tế .
Theo chúng tôi, sở dĩ tỷ suất người bị phán quyết được cho hưởng án treo khá thấp là do những nguyên do sau đây :
– Nhận thức thiếu đúng chuẩn và thống nhất điều kiện vận dụng án treo luật định ;
– Hướng dẫn vận dụng án treo quá ngặt nghèo, máy móc thu hẹp khoanh vùng phạm vi vận dụng án treo theo luật định ;
– Tâm lý, thói quen phạt tù trong truyền thống cuội nguồn xét xử của Tòa án nước ta ; coi phạt tù là giải pháp tốt nhất, hiệu suất cao nhất trong phòng, chống tội phạm ;
– Dư luận xã hội thiếu tích cực so với tình hình vận dụng án treo ; cho rằng án treo ít có công dụng trong răn đe, phòng ngừa tội phạm ; còn hoài nghi có xấu đi của Tòa án trong vận dụng án treo ;
– Quy chế kỷ luật [ 6 ] trong quản trị Thẩm phán cũng làm cho một số ít Thẩm phán lo lắng trong vận dụng án treo ; nhiều Thẩm phán có tâm ý “ xử phạt tù cho lành ” …

3. Một số nhận xét và kiến nghị

3.1. Một số nhận xét

Nói tóm lại, theo chúng tôi, mặc dầu là một chế định đã có từ lâu trong PLHS và được hướng dẫn vận dụng khá nhiều, nhưng yếu tố án treo chưa phải đã được nhận thức đúng đắn, thống nhất. Nghị quyết số 02/2018 / NQ-HĐTP đã giúp cho Thẩm phán, Hội thẩm giảm bớt khó khăn vất vả hơn trong vận dụng án treo, có giá trị “ cầm tay chỉ việc ” cho họ trong hoạt động giải trí xét xử. Tuy nhiên, với nhận thức và một số ít hướng dẫn khá máy móc, khô cứng … đã thu hẹp khoanh vùng phạm vi vận dụng án treo do luật định, thu hẹp năng lực dữ thế chủ động, độc lập nhìn nhận, vận dụng – một điểm đặc trưng trong hoạt động giải trí nghề nghiệp của Thẩm phán, Hội thẩm ; chưa thật phân phối chủ trương hình sự hướng thiện, vì con người, coi trọng tính phòng ngừa, thu hẹp phạt tù …
Điều 65 BLHS năm năm ngoái đã có nhiều điểm sửa đổi, bổ trợ về án treo. Đặc biệt, pháp luật về vận dụng hình phạt bổ trợ và điều kiện thử thách mới của án treo. Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm năm ngoái, thủ tục buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù không được pháp luật. Vì vậy, lao lý này cần được nhận thức đúng về nội dung và hướng dẫn triển khai hài hòa và hợp lý về thủ tục tố tụng .

3.2. Kiến nghị

Thiết nghĩ, Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần không cho chủ trương hình sự nhân đạo, hướng thiện, coi trọng tính phòng ngừa, hạn chế hình phạt tù của Đảng và Nhà nước ta, nhận thức đúng chuẩn, rất đầy đủ, không cho tốt Điều 65 BLHS năm ngoái và tổng kết thực tiễn xét xử những năm qua để liên tục sửa đổi, bổ trợ Nghị quyết số 02/2018 / NQ-HĐTP, đặc biệt quan trọng là hướng dẫn về điều kiện, nhất là điều kiện về nhân thân không cần bắt chấp hành hình phạt tù để vận dụng án treo ; hạn chế những hướng dẫn cấm mang tính máy móc, cứng ngắc trong vận dụng chế định này .
Cần thay đổi hoạt động giải trí kiểm tra, giám sát, giám đốc xét xử, cơ quan có thẩm quyền so với hoạt động giải trí xét xử của Tòa án. Hoạt động giám sát phải được triển khai tổng lực, chứ không chỉ tập trung chuyên sâu vào án treo ; cơ sở pháp lý của hoạt động giải trí giám sát về vận dụng án treo phải hầu hết là Điều 65 BLHS năm năm ngoái, chứ không chỉ Nghị quyết và phát biểu của 1 số ít người có thẩm quyền ; việc giải quyết và xử lý nghĩa vụ và trách nhiệm nên được triển khai thận trọng hơn … để tạo điều kiện cho những Tòa án mạnh dạn hơn trong vận dụng án treo so với người bị phạt tù khi có đủ điều kiện luật định, góp thêm phần triển khai chủ trương hình sự đã xác lập, phòng, chống có hiệu suất cao tình hình tội phạm ở nước ta. / .

 Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân số 5 -2021

[ 1 ] Theo luật hình sự 1 số ít nước, ngoài hình phạt tù, án treo còn hoàn toàn có thể vận dụng so với người bị phạt tái tạo không giam giữ ( Nga ). Một số nước khác, án treo được coi như một loại hình phạt giám sát tại hội đồng ( Đức ) .
[ 2 ] Điểm b tiểu mục 6.1 mục 6 Nghị quyết số 01/2007 / NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số ít pháp luật trong phần thứ năm “ Thi hành bản án và quyết định hành động của Toà án ” trong BLTTHS ; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 01/2013 / NQ-HĐTP hướng dẫn vận dụng Điều 60 BLHS 1999 về án treo ; điểm 2 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018 / NQ-HĐTP hướng dẫn vận dụng Điều 65 BLHS năm ngoái về án treo ; Lê Văn Cảm, Những yếu tố cơ bản trong khoa học Luật hình sự phần chung, NXB. Đại học vương quốc TP.HN, 2019, tr. 652 ; Võ Khánh Vinh ( Chủ biên ), Luật hình sự Nước Ta, Phần chung, NXB. Khoa học xã hội, năm trước, tr. 454 ; Vụ hình sự, hành chính, Bộ Tư pháp, Bình luận Bộ luật hình sự năm ngoái, phần những lao lý chung, NXB. Tư pháp, 2018, tr. 246 .

[3] Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 20/3/1993 của TANDTC-VKSNDTC-BNV-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.

[ 4 ] Theo ý thức của nguyên tắc nhân đạo của PLHS, trong điều kiện vận dụng những lao lý bộc lộ nguyên tắc này ( như miễn TNHS, miễn hình phạt, vận dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt pháp luật, án treo … ) đều không đề cập đến diễn biến tăng nặng TNHS .
[ 5 ] Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 02/2018 / NQ-HĐTP hướng dẫn vận dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo .
[ 6 ] Quyết định số 120 / QĐ-TANDTC ngày 19/6/2017 của Chánh án TANDTC phát hành pháp luật giải quyết và xử lý nghĩa vụ và trách nhiệm người giữ chức vụ tư pháp trong Tòa án nhân dân .

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.