Điều 257 Bộ luật Hình sự quy định về tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy

Điều 257 Bộ luật Hình sự pháp luật về tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy

Điều 257. Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy

    1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a ) Có tổ chức triển khai ;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c ) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi ;
d ) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi ;
đ ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai ;
e ) Đối với 02 người trở lên ;
g ) Đối với người đang cai nghiện ;
h ) Gây tổn hại cho sức khỏe thể chất của người khác mà tỷ suất tổn thương khung hình từ 31 % đến 60 % ;
i ) Gây bệnh nguy khốn cho người khác ;
k ) Tái phạm nguy khốn .
3. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm :
a ) Gây tổn hại cho sức khỏe thể chất của người khác mà tỷ suất tổn thương khung hình từ 61 % trở lên hoặc gây chết người ;
b ) Gây bệnh nguy hại cho 02 người trở lên ;
c ) Đối với người dưới 13 tuổi .
4. Phạm tội trong trường hợp làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân .
5. Người phạm tội còn hoàn toàn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng .

Luật sư phân tích 4 yếu tố cấu thành tội phạm:

  • Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma tuý cũng phải bảo vệ những yếu tố ( điều kiện kèm theo ) cần và đủ như : độ tuổi, năng lượng nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự

  • Mặt chủ quan của tội phạm:

+ Lỗi: Người phạm tội thực hiện các tội phạm nêu trên với lỗi cố ý, tức là nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện.

+ Mục đích của người phạm tội là dấu hiệu bắt buộc, tức là người phạm tội mong muốn người khác sử dụng trái phép chất ma tuý với nhièu động cơ khác nhau. Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh mục đích của người phạm tội. Nếu không chứng minh được mục đích của người phạm tội là mong muốn người mà mình cưỡng bức sử dụng trái phép chất ma tuý thì không phải là phạm tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma tuý.

  • Khách thể của tội phạm:

Các hành vi phạm tội nêu ở trên xâm phạm đến những lao lý của Nhà nước về quản trị, sử dụng những chất ma túy và gián tiếp xâm phạm đến tính mạng con người, sức khỏe thể chất của người khác .

  • Mặt khách quan của tội phạm:

+ Hành vi :
Đối với tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy, có những tín hiệu sau đây :

  • Có hành vi dùng vũ lực (dùng sức mạnh vật chất để tấn công người khác), đe dọa sử dụng vũ lực (tức đe dọa sử dụng sức mạnh vật chất) gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe đối với người khác để uy hiếp tinh thần họ nhằm buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ.
  • Có hành vi dùng thủ đoạn khác như đe dọa đốt nhà, làm mất danh dự, nhân phẩm của người bị hại…làm cho họ lo sợ thực sự và chấp nhận sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ.

+ Hậu quả :
Hậu quả của hành vi cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là những thiệt hại cho xã hội, trong đó trực tiếp gây ra những thiệt hại về trật tự bảo đảm an toàn xã hội, tính mạng con người, sức khoẻ của chính người sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, hậu quả của tội phạm này không phải là tín hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Nếu thiệt hại về tính mạng con người, sức khoẻ có xẩy ra so với người sử dụng trái phép chất ma tuý thì những thiệt hại đó là yếu tố định khung hình phạt .

Văn bản hướng dẫn:

  • Hướng dẫn khoản 1:

Thông tư liên tịch số : 17/2007 / TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp Hướng dẫn vận dụng một số ít pháp luật tại Chương XVIII “ Các tội phạm về ma túy ” của Bộ luật Hình sự năm 1999 .

  1. VỀ CÁC TỘI PHẠM CỤ THỂ
  2. Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200)

9.1. “ Cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy ” là hành vi dùng vũ lực hoặc rình rập đe dọa dùng vũ lực hoặc những thủ đoạn khác uy hiếp niềm tin của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ .

  • Hướng dẫn điểm c khoản 2 “Vì động cơ  đê hèn”

Thông tư liên tịch số: 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999.

9.3. Về một số ít diễn biến định khung hình phạt pháp luật tại Điều 200 của BLHS :
a ) “ Vì động cơ đê hèn ” pháp luật tại điểm c khoản 2 Điều 200 của BLHS là vì động cơ trả thù hoặc vì những động cơ tư lợi, thấp hèn khác ;

  • Hướng dẫn điểm i khoản 2 “Gây bệnh nguy hiểm cho người khác”

Thông tư liên tịch số: 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999.

9.3. Về một số ít diễn biến định khung hình phạt pháp luật tại Điều 200 của BLHS :
b ) “ Gây bệnh nguy hại cho người khác ” pháp luật tại điểm i khoản 2 Điều 200 của BLHS là trường hợp người phạm tội ( hoàn toàn có thể biết hoặc không biết ) đã gây ra cho người bị cưỡng bức, lôi kéo sử dụng trái phép chất ma túy một số ít bệnh nguy khốn như HIV / AIDS, viêm gan B, lao …
Trường hợp người cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy biết bản thân họ hoặc người khác đã nhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người sử dụng chất ma túy thì cùng với việc bị truy cứu nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy theo lao lý tại điểm i khoản 2 Điều 200 của BLHS, người này còn bị truy cứu nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự về tội lây truyền HIV cho người khác theo pháp luật tại Điều 117 của BLHS hoặc tội cố ý truyền HIV cho người khác theo pháp luật tại Điều 118 .

====================================================

Công ty luật Dragon chuyên tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến online – 1900 599 979

Để biết thêm thông tin chi tiết bạn có thể liên hệ với Luật sư Hà Nội theo địa chỉ dưới đây.

  1. Trụ sở chính Công ty luật Dragon tại quận Cầu Giấy:  Phòng 6, Tầng 14, Tòa nhà VIMECO, Đường Phạm Hùng, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
  2. VPĐD Công ty luật Dragon tại quận Long Biên: Số 24 Ngõ 29 Phố Trạm, phường Long Biên, quận Long Biên, Tp Hà Nội.
  3. Chi nhánh văn phòng luật sư Dragon tại Hải Phòng: Phòng 6 tầng 4 Tòa Nhà Khánh Hội, đường Lê Hồng Phong, quận Hồng Bàng, Tp Hải Phòng.

Công ty luật Dragon cung cấp biểu phí và thù lao luật sư tham khảo tại đây

Thạc sĩ Luật sư Nguyễn Minh Long

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *