Phân tích 5 quan điểm quản trị Marketing, và cho ví dụ minh họa về doanh nghiệp

Phân tích 5 quan điểm quản trị Marketing, và cho ví dụ minh họa về doanh nghiệp ở Việt Nam đối với từng quan điểm.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (114.06 KB, 6 trang )

Phân tích 5 quan điểm quản trị Marketing, và cho ví dụ minh họa về doanh nghiệp
ở Việt Nam đối với từng quan điểm.
Đề tài: Phân tích 5 quan điểm quản trị Marketing, và cho ví dụ minh họa về doanh nghiệp
ở Việt Nam đối với từng quan điểm.
I. Quản trị Marketing
Quản trị Marketing là quá trình phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra việc thi
hành những biện pháp nhằm thiết lập, củng cố và duy trì những cuộc trao đổi có lợi với
những người mua sẽ được lựa chọn để đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp như thu
lợi nhuận, tăng khối lượng hàng tiêu thụ, mở rộng thị trường v.v…
Người ta thường quan niệm quản trị Marketing có nhiệm vụ chủ yếu là kích thích nhu cầu
có khả năng thanh toán về những sản phẩm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đó mới chỉ là
một quan niệm hết sức phiến diện, bởi lẽ quản trị Marketing có nhiệm vụ tác động đến
mức độ, thời điểm và cơ cấu của nhu cầu có khả năng thanh toán theo một cách nào đó để

giúp cho doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đề ra. Quản trị Marketing thực chất là
quản trị nhu cầu có khả năng thanh toán, nói ngắn gọn là “điều khiển nhu cầu”.
Trong một tổ chức, quản trị Marketing có thể liên quan đến nhiều thị trường, nhưng
chúng ta chỉ xem xét quản trị Marketing của doanh nghiệp liên quan đến thị trường khách
hàng. Khi đó, nhà quản trị Marketing là những chuyên gia có thể tìm kiếm đủ số khách
hàng cần thiết để mua toàn bộ khối lượng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra tại thời
điểm nhất định. Họ có nhiệm vụ phân tích các tình huống Marketing, thực hiện những kế
hoạch đã đề ra và thực hiện chức năng kiểm tra. Hay nói cách khác họ là người quản lý tiêu
thụ và các nhân viên phòng tiêu thụ, những người phụ trách quảng cáo, người thúc đẩy tiêu
thụ, người nghiên cứu Marketing, các chuyên gia về giá cả.
Như vậy, quản trị Marketing là nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Thực
tế, hoạt động quản trị Marketing của doanh nghiệp thường bị chi phối bởi 5 quan điểm cơ

bản là tập trung vào sản xuất, hoàn thiện hàng hóa, tăng cường nỗ lực thương mại, quan
niệm Marketing và quan niệm Marketing đạo đức xã hội.
II. Các quan niệm quản trị Marketing
1. Quan niệm tập trung vào sản xuất
Quan niệm tập trung vào sản xuất nhấn mạnh rằng người tiêu dùng sẽ có cảm tình đối
với những thứ hàng hóa được bán rộng rãi và giá cả phải chăng. Bởi vậy, các nhà quản trị
doanh nghiệp phải tập trung vào việc tăng quy mô sản xuất, mở rộng phạm vi tiêu thụ và
nâng cao hiệu quả của hệ thống phân phối.
Như vậy, doanh nghiệp theo quan niệm này sẽ sản xuất số lượng sản phẩm nhiều và
mức giá bán thấp. Tuy nhiên, quan điểm này chỉ đem lại thành công cho doanh nghiệp
trong 2 trường hợp:
Thứ nhất, khi nhu cầu có khả năng thanh toán về sản phẩm vượt quá lượng cung ứng.

Tình thế này buộc nhà sản xuất phải tìm kiếm mọi giải pháp để đẩy mạnh sản xuất.
Thứ hai, khi giá thành sản phẩm, chi phí sản xuất cao và nhu cầu tiêu dùng giảm
xuống. Điều này buộc các doanh nghiệp phải tìm các giải pháp để tăng năng suất lao động,
nếu năng suất không tăng, chi phí sản xuất không giảm, sản phẩm khó tiêu thụ được và kết
quả là doanh nghiệp khó tồn tại và phát triển được.
Quan niệm tập trung sản xuất luôn là quan điểm chỉ đạo hoạt động của nhiều doanh
nghiệp lớn kể cả trong lĩnh vực dịch vụ, bảo hiểm, tài chính.
Công ty viễn thông Viettel là một trong những công ty lấy quan điểm tập trung sản xuất là
quan điểm kinh doanh chỉ đạo. Trong những ngày đầu tiên thành lập, công ty đã nhận được
sự ủng hộ nhiệt thành của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người dân có thu nhập
trung bình khá, vì các dịch vụ, sản phẩm của công ty tương đối rẻ hơn các nhà cung cấp
viễn thông khác. Công ty luôn không ngừng mở rộng danh mục các dịch vụ, các gói cước

điện thoại vô cùng hấp dẫn để thu hút khách hàng. Tuy nhiên, trong thời kỳ kinh tế thị
trường, cạnh tranh là yếu tố không thể tránh khỏi. Để khách hàng tin tưởng sử dụng dịch
vụ của mình công ty phải thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như quan tâm
đến việc tiêu thụ nhiều hơn.
2. Quan niệm hoàn thiện hàng hóa
Quan niệm hoàn thiện hàng hóa nhấn mạnh rằng người tiêu dùng sẽ ưa thích
những hàng hóa có chất lượng cao, có tính năng sử dụng tốt nhất. Những người lãnh đạo
doanh nghiệp theo quan điểm này thường tập trung sức lực vào việc làm ra những sản
phẩm thượng hạng và thường xuyên cải tiến chúng.
Tuy nhiên cần lưu ý, khi một sản phẩm hàng hóa được coi là hoàn thiện có nghĩa là
nhà sản xuất phải áp dụng các biện pháp cần thiết để làm cho sản phẩm đó hấp dẫn từ bao
bì, mẫu mã đến giá cả hợp lý. Nếu không nhà sản xuất sẽ rơi vào ảo tưởng về “chiếc bẫy

chuột tốt hơn” vì tin rằng chiếc bẫy chuột tốt hơn sẽ khiến người ta mua nhiều hơn mà
quên mất việc diệt chuột có thể tiến hành bằng rất nhiều cách khác.
Nhiều doanh nghiệp theo quan điểm này chỉ chú trọng đến sản phẩm mà không
tính đến nhu cầu của khách hàng, đó là một xu hướng cực đoan cần tránh: “Marketing
thiển cận” hay “Marketing phiến diện”. Những doanh nghiệp này lẽ ra phải “nhìn ra cửa
sổ” thì họ lại chỉ “soi gương”.
Quan niệm này đòi hỏi việc hoàn thiện hàng hóa luôn phải tính đến chu kỳ sống
của sản phẩm trong công cuộc cạnh tranh ngày càng ác liệt, và khoa học kỹ thuật ngày
càng tiến bộ.
Một minh chứng cho quan niệm này đó là công ty văn phòng phẩm Hồng Hà, tọa
lạc tại một vị trí tuyệt đẹp giữa trung tâm Thủ đô Hà Nội, số 25 Lý Thường Kiệt. Nhà máy
văn phòng phẩm Hồng Hà, nhà máy sản xuất đồ dùng văn phòng đầu tiên của nước Việt

Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đã chính thức cắt băng khánh thành vào ngày 1/10/1959. Trong
suốt gần 50 năm hoạt động, công ty đã phải trải qua khá nhiều khó khăn và thử thách. Đó
là những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 thế kỷ 20, kinh tế thị trường đã thay thế
cho kinh tế bao cấp, sản phẩm của Hồng Hà không còn là độc quyền, vì vậy để tồn tại
được công ty phải hoàn thiện sản phẩm, hấp dẫn từ bao bì, mẫu mã, chất lượng đến giá cả
phải chăng. Nhưng phải mất 10 năm, từ 1987 đến 1997 thì công ty mới bước vào giai đoạn
cất cánh, nhờ việc thay đổi tư duy trong việc quản lý công ty, cơ cấu lại mặt hàng một cách
khoa học và đúng đắn, nghiên cứu nhiều yếu tố khác chứ không chỉ mỗi việc hoàn thiện
sản phẩm, như nhu cầu khách hàng, đối thủ cạnh tranh, dự báo tương lai…Ngoài ra công ty
còn áp dụng dây chuyền sản xuất hiện đại và xác định rõ tầm quan trọng của chiến lược
phát triển thương hiệu, nhờ đó mà sản phẩm của Hồng Hà đã nhận được chứng chỉ ISO
9001 000 và được sự tin yêu của rất nhiều người tiêu dùng.

3. Quan niệm nỗ lực thương mại
Quan niệm tăng cường nỗ lực thương mại nhấn mạnh rằng người tiêu dùng sẽ không
mua một khối lượng hàng hóa lớn của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không có những nỗ
lực trong các lĩnh vực tiêu thụ và khuyến mại.
Quan niệm này đòi hỏi các nhà quản trị Marketing phải đầu tư nhiều hơn vào khâu
tiêu thụ và khuyến mại, bởi lẽ người tiêu dùng còn tỏ ra ngần ngại trong việc mua hàng. Có
nhiều cách để vận dụng quan điểm này như thiết kế các cửa hàng hiện đại, huấn luyện đội
ngũ bán hàng chuyên nghiệp biết thuyết phục đặc biệt là cách thức tác động vào tâm lý
khách hàng.
Quan điểm này được vận dụng đặc biệt thích hợp với những thứ hàng có nhu cầu
thụ động tức là những thứ hàng mà người mua thường không nghĩ đến chuyện mua sắm
nó. Các doanh nghiệp này sẽ áp dụng nhiều biện pháp bán hàng khác nhau để phát hiện

những khách hàng tiềm ẩn rồi bắt đầu nài ép để bán hàng cho họ bằng cách thuyết phục về
những lợi ích của sản phẩm.
Phương pháp bán hàng nài ép cũng được áp dụng đối với những thứ hàng có nhu
cầu cần chủ động, khi khách hàng đã thích sản phẩm nhưng còn đắn đo về giá cả thì người
bán hàng có thể thương lượng và giảm giá cho khách hàng. Tuy nhiên, Marketing dựa trên
cơ sở bán hàng nài ép chứa đựng nhiều rủi ro lớn. Vì nghiên cứu cho thấy những khách
hàng không bị thuyết phục mua hàng và không hài lòng về một sản phẩm có thể truyền
tiếng xấu về sản phẩm và doanh nghiệp sản xuất sản phẩm đó cho từ mười người trở lên và
danh tiếng của doanh nghiệp sẽ bị tổn hại.
Quan điểm nỗ lực thương mại được vận dụng cả trong lĩnh vực phi thương mại
như quyên góp quỹ, chiêu sinh vào các trường đại học, vận động bầu cử…
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam có khá nhiều doanh nghiệp vận dụng quan điểm

này. Công ty cổ phần thế giới số Trần Anh là một trong số những doanh nghiệp trẻ áp dụng
quan điểm nỗ lực thương mại. Từ lúc thành lập năm 2002 với tổng số nhân viên là 5 người
làm việc trong một cửa hàng có diện tích trên 60m2, sau 7 năm hoạt động hiện nay công ty
đã có tổng số trên 350 nhân viên với 2 địa điểm kinh doanh có tổng diện tích gần 7000m2.
Gắn liền với sự hoạt động và phát triển của Trần Anh là những sự kiện và chính sách kinh
doanh mang tính đột phá, tiên phong trong lĩnh vực kinh doanh máy vi tính như: “bán giá
bán buôn đến tận tay người tiêu dùng”, “chính sách bảo hành 1 đổi 1 trong vòng 6 tháng”,
“bảo hành cả trong trường hợp IC bị cháy nổ”, “chính sách cam kết hoàn tiền khi có biến
động giá”…
Công ty còn có một đội ngũ nhân viên hùng hậu với trình độ chuyên môn cao (hơn
80% đã tốt nghiệp Đại học, cao đẳng chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật), đủ khả năng để có
thế đáp ứng mọi yêu cầu khắt khe nhất của khách hàng, đầy lòng nhiệt tình và có thái độ

niềm nở trong cung cách phục vụ khách hàng. Công ty Trần Anh thấu hiểu một điều:
“Khách hàng mới là người quyết định tương lai, sự tồn tại và phát triển của Trần Anh” vì
vậy công ty luôn làm việc theo suy nghĩ: “Hãy phục vụ khách hàng như chúng ta đang
phục vụ cho chính bản thân chúng ta” và “Lấy sự hài lòng của khách hàng làm niềm hạnh
phúc của chúng ta”.
4. Quan điểm Marketing
Quan điểm Marketing nhấn mạnh rằng điều kiện đầu tiên cần phải làm để đạt được
mục tiêu của công ty là xác định được nhu cầu và mong muốn của thị trường mục tiêu và
tìm cách thỏa mãn chúng với những phương thức có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh.
Quan điểm Marketing thường được biểu hiện qua những khẩu hiệu, phương châm
hoạt động có doanh nghiệp, ví dụ: “Khách hàng là thượng đế”; “Uy tín quý hơn vàng”;
“Hãy yêu quý khách hàng chứ không phải là sản phẩm”; “Hãy làm tất cả những gì mà sức

ta có thể để cho mỗi đồng USD của khách hàng được đền bù xứng đáng bằng giá trị, chất
lượng và sự mãn nguyện”…
Quan điểm Marketing có nhiều sự tương phản với quan điểm nỗ lực thương mại.
Quan điểm nỗ lực thương mại tập trung vào nhu cầu của người bán trong khi quan điểm
Marketing chú trọng nhu cầu của người mua. Quan điểm nỗ lực thương mại nhìn triển
vọng từ trong ra ngoài, từ nhà máy, đến sản phẩm và việc tiêu thụ, khuyến mại để đảm bảo
lợi nhuận cho doanh nghiệp; còn quan điểm Marketing nhìn triển vọng từ ngoài vào trong,
từ thị trường đến nhu cầu của khách hàng, đến việc phối hợp các hoạt động tác động đến
nhu cầu khách hàng và tạo ra lợi nhuận thông qua việc thỏa mãn những nhu cầu đó.
Quan điểm Marketing dựa trên bốn trụ cột chính là thị trường mục tiêu, nhu cầu
của khách hàng, marketing phối hợp và khả năng sinh lời.
Thị trường mục tiêu

Không một doanh nghiệp nào có thể hoạt động trên mọi thị trường và thỏa mãn được
mọi nhu cầu. Các doanh nghiệp chỉ có thể đạt được kết quả tốt nhất khi họ xác định một
cách thận trọng thị trường mục tiêu của mình rồi chuẩn bị một chương trình marketing phù
hợp.
Nhu cầu của khách hàng
Khi đã xác định được thị trường mục tiêu, doanh nghiệp phải tìm hiểu nhu cầu của
khách hàng. Nhu cầu của khách hàng có thể được chia thành năm loại: nhu cầu được nói
ra, nhu cầu thực tế, nhu cầu không nói ra, nhu cầu được thích thú, nhu cầu thầm kín.
Một doanh nghiệp có thể đáp ứng những đòi hỏi của khách bằng cách đưa cho họ
những gì họ muốn, hay họ cần và họ thực sự cần. Mỗi mức độ sau đòi hỏi phải thăm dò
thấu đáo hơn mức trước, nhưng phải đem lại kết quả là được nhiều khách hàng ưa thích.
Marketing chuyên nghiệp chính là phải thỏa mãn nhu cầu thực tế của khách hàng tốt hơn

đối thủ cạnh tranh. ở đây khách hàng của doanh nghiệp bao gồm cả khách hàng hiện thực
và khách hàng tiềm năng. Việc giữ chân khách hàng hiện thực cũng quan trọng không kém
việc thu hút khách hàng tiềm năng, đôi lúc còn quan trọng hơn cả.
Một doanh nghiệp thông minh còn phải thường xuyên định lượng mức độ thỏa mãn
của khách hàng bằng nhiều cách như phiếu thăm dò, hòm thư góp ý, khiếu nại…
Marketing phối hợp
Thứ nhất là các chức năng Marketing phải được phối hợp với nhau.
Thứ hai là Marketing phải được phối hợp chặt chẽ với các bộ phận khác nhau trong
công ty.
Vì vậy quan niệm Marketing đòi hỏi doanh nghiệp phải tiến hành Marketing đối nội
cũng như đối ngoại. Marketing đối nội là tuyển dụng, huấn luyện và động viên nhân viên.
Trong thực tế Marketing đối nội phải đi trước Marketing đối ngoại.

Khả năng sinh lời
Mục đích của quan điểm Marketing là giúp tổ chức đạt được những mục tiêu đã đề ra,
trường hợp với các doanh nghiệp thì mục tiêu là lợi nhuận, khả năng sinh lời.
Có bao nhiêu công ty theo quan điểm Marketing trên thế giới? Có thể nói là rất nhiều,
nhưng chỉ có một ít trong số những công ty đó áp dụng thành công quan niệm Marketing. ở
Việt Nam thì có thể kể ra Công ty Kinh Đô, Cà fê Trung Nguyên, Công ty sữa Vinamilk…
Được thành lập từ năm 1993, công ty Kinh Đô khởi đầu là phân xưởng sản xuất nhỏ tại
Phú Lâm, quận 6 TP Hồ Chí Minh, có chức năng sản xuất và kinh doanh mặt hàng bánh
Snack – một sản phẩm mới đối với người tiêu dùng trong nước lúc bấy giờ. Việc sản xuất
và tung ra sản phẩm Bánh Snack Kinh Đô với giá rẻ, mùi vị đặc trưng phù hợp với thị hiếu
của người tiêu dùng đã trở thành bước đệm quan trọng cho sự phát triển không ngừng của
công ty Kinh Đô sau này. Những năm sau đó, công ty liên tục đầu tư vào dây chuyền thiết

bị sản xuất, cho ra một loạt sản phẩm mới như bánh mì bông lan, kẹo Chocolate, bánh
Cracker, kẹo cứng, kẹo mềm…đây là các sản phẩm mang tính dinh dưỡng cao, vệ sinh và
giá cả thích hợp cho nhiều tầng lớp dân cư. Ngoài ra hệ thống Kinh Đô Bakery cũng lần
lượt ra đời, là kênh bán hàng trực tiếp của công ty, với hàng trăm loại bánh kẹo và các sản
phẩm bánh tươi, với mẫu mã bao bì hợp vệ sinh, tiện lợi và đẹp mắt, là nơi khách hàng có
thể đến lựa chọn một cách tự do và thoải mái. Cũng qua hệ thống này, công ty tiếp nhận
nhiều ý kiến đóng góp cũng như phản hồi của người tiêu dùng, qua đó có thể hoàn thiện và
cải tiến sản phẩm, cung cách phục vụ của mình nhiều hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của người tiêu dùng.
Công ty luôn quyết tâm đẩy mạnh hơn nữa việc xuất khẩu ra thị trường Mỹ, Pháp, Canada,
Đức, Đài Loan… Tìm thêm thị trường mới thông qua việc phát huy nội lực, nghiên cứu thị
trường nước ngoài, tham gia các hội chợ quốc tế về thực phẩm… Cải tiến chất lượng, khẩu

vị, bao bì mẫu mã phù hợp với từng thị trường cũng như từng đối tượng khách hàng. Với
mục tiêu chiếm lĩnh thị trường trong nước, công ty Kinh Đô đã phát triển hệ thống các nhà
phân phối và đại lý phủ khắp 61 tỉnh thành, luôn luôn đảm bảo việc kinh doanh phân phối
được thông suốt và kịp thời.
5. Quan niệm Marketing đạo đức xã hội
Sự phát triển của nền sản xuất hiện đại đã đặt cơ sở cho quan niệm này.
Quan niệm Marketing đạo đức xã hội nhấn mạnh rằng nhiệm vụ của công ty là xác định
nhu cầu, mong muốn và lợi ích của các thị trường mục tiêu và thỏa mãn chúng bằng những
phương thức hiệu quả, đồng thời phải có tác động vào nâng cao sự phát triển cho người
tiêu dùng và cho xã hội.
Quan niệm này xuất phát từ sự nghi ngờ tính chất phù hợp của quan niệm Marketing thuần
túy với những vấn đề nảy sinh trong thời đại hiện nay như chất lượng môi trường sống

đang trở nên xấu hơn, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, dân số tăng nhanh… Bởi vậy trong
hoạt động Marketing người ta muốn tìm thấy một sự liên kết lâu dài giữa người mua,
giúp cho doanh nghiệp đạt được những tiềm năng đề ra. Quản trị Marketing thực ra làquản trị nhu yếu có năng lực giao dịch thanh toán, nói ngắn gọn là “ điều khiển và tinh chỉnh nhu yếu ”. Trong một tổ chức triển khai, quản trị Marketing hoàn toàn có thể tương quan đến nhiều thị trường, nhưngchúng ta chỉ xem xét quản trị Marketing của doanh nghiệp tương quan đến thị trường kháchhàng. Khi đó, nhà quản trị Marketing là những chuyên viên hoàn toàn có thể tìm kiếm đủ số kháchhàng thiết yếu để mua hàng loạt khối lượng mẫu sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra tại thờiđiểm nhất định. Họ có trách nhiệm nghiên cứu và phân tích các trường hợp Marketing, triển khai những kếhoạch đã đề ra và thực thi tính năng kiểm tra. Hay nói cách khác họ là người quản trị tiêuthụ và các nhân viên cấp dưới phòng tiêu thụ, những người đảm nhiệm quảng cáo, người thôi thúc tiêuthụ, người điều tra và nghiên cứu Marketing, các chuyên viên về Chi tiêu. Như vậy, quản trị Marketing là nhằm mục đích triển khai các tiềm năng của doanh nghiệp. Thựctế, hoạt động giải trí quản trị Marketing của doanh nghiệp thường bị chi phối bởi 5 quan điểm cơbản là tập trung chuyên sâu vào sản xuất, hoàn thành xong sản phẩm & hàng hóa, tăng cường nỗ lực thương mại, quanniệm Marketing và ý niệm Marketing đạo đức xã hội. II. Các ý niệm quản trị Marketing1. Quan niệm tập trung chuyên sâu vào sản xuấtQuan niệm tập trung chuyên sâu vào sản xuất nhấn mạnh vấn đề rằng người tiêu dùng sẽ có tình cảm đốivới những thứ sản phẩm & hàng hóa được bán thoáng rộng và Chi tiêu phải chăng. Bởi vậy, các nhà quản trịdoanh nghiệp phải tập trung chuyên sâu vào việc tăng quy mô sản xuất, lan rộng ra khoanh vùng phạm vi tiêu thụ vànâng cao hiệu suất cao của mạng lưới hệ thống phân phối. Như vậy, doanh nghiệp theo ý niệm này sẽ sản xuất số lượng loại sản phẩm nhiều vàmức giá bán thấp. Tuy nhiên, quan điểm này chỉ đem lại thành công xuất sắc cho doanh nghiệptrong 2 trường hợp : Thứ nhất, khi nhu yếu có năng lực thanh toán giao dịch về loại sản phẩm vượt quá lượng đáp ứng. Tình thế này buộc đơn vị sản xuất phải tìm kiếm mọi giải pháp để tăng cường sản xuất. Thứ hai, khi giá tiền mẫu sản phẩm, chi phí sản xuất cao và nhu yếu tiêu dùng giảmxuống. Điều này buộc các doanh nghiệp phải tìm các giải pháp để tăng hiệu suất lao động, nếu hiệu suất không tăng, chi phí sản xuất không giảm, loại sản phẩm khó tiêu thụ được và kếtquả là doanh nghiệp khó sống sót và tăng trưởng được. Quan niệm tập trung chuyên sâu sản xuất luôn là quan điểm chỉ huy hoạt động giải trí của nhiều doanhnghiệp lớn kể cả trong nghành nghề dịch vụ dịch vụ, bảo hiểm, kinh tế tài chính. Công ty viễn thông Viettel là một trong những công ty lấy quan điểm tập trung chuyên sâu sản xuất làquan điểm kinh doanh thương mại chỉ huy. Trong những ngày tiên phong xây dựng, công ty đã nhận đượcsự ủng hộ nhiệt thành của mọi những tầng lớp nhân dân, đặc biệt quan trọng là những người dân có thu nhậptrung bình khá, vì các dịch vụ, mẫu sản phẩm của công ty tương đối rẻ hơn các nhà cung cấpviễn thông khác. Công ty luôn không ngừng lan rộng ra hạng mục các dịch vụ, các gói cướcđiện thoại vô cùng mê hoặc để lôi cuốn người mua. Tuy nhiên, trong thời kỳ kinh tế tài chính thịtrường, cạnh tranh đối đầu là yếu tố không hề tránh khỏi. Để người mua tin yêu sử dụng dịchvụ của mình công ty phải tiếp tục nâng cao chất lượng loại sản phẩm cũng như quan tâmđến việc tiêu thụ nhiều hơn. 2. Quan niệm triển khai xong hàng hóaQuan niệm hoàn thành xong sản phẩm & hàng hóa nhấn mạnh vấn đề rằng người tiêu dùng sẽ ưa thíchnhững sản phẩm & hàng hóa có chất lượng cao, có tính năng sử dụng tốt nhất. Những người lãnh đạodoanh nghiệp theo quan điểm này thường tập trung chuyên sâu công sức của con người vào việc làm ra những sảnphẩm hạng sang và liên tục nâng cấp cải tiến chúng. Tuy nhiên cần quan tâm, khi một mẫu sản phẩm sản phẩm & hàng hóa được coi là hoàn thành xong có nghĩa lànhà sản xuất phải vận dụng các giải pháp thiết yếu để làm cho loại sản phẩm đó mê hoặc từ baobì, mẫu mã đến Chi tiêu hài hòa và hợp lý. Nếu không đơn vị sản xuất sẽ rơi vào ảo tưởng về “ chiếc bẫychuột tốt hơn ” vì tin rằng chiếc bẫy chuột tốt hơn sẽ khiến người ta mua nhiều hơn màquên mất việc diệt chuột hoàn toàn có thể thực thi bằng rất nhiều cách khác. Nhiều doanh nghiệp theo quan điểm này chỉ chú trọng đến loại sản phẩm mà khôngtính đến nhu yếu của người mua, đó là một khuynh hướng cực đoan cần tránh : “ Marketingthiển cận ” hay “ Marketing phiến diện ”. Những doanh nghiệp này lẽ ra phải “ nhìn ra cửasổ ” thì họ lại chỉ “ soi gương ”. Quan niệm này yên cầu việc triển khai xong sản phẩm & hàng hóa luôn phải tính đến chu kỳ luân hồi sốngcủa loại sản phẩm trong công cuộc cạnh tranh đối đầu ngày càng ác liệt, và khoa học kỹ thuật ngàycàng văn minh. Một dẫn chứng cho ý niệm này đó là công ty văn phòng phẩm Hồng Hà, tọalạc tại một vị trí tuyệt đẹp giữa TT Thủ đô TP. Hà Nội, số 25 Lý Thường Kiệt. Nhà máyvăn phòng phẩm Hồng Hà, nhà máy sản xuất sản xuất vật dụng văn phòng tiên phong của nước ViệtNam Dân Chủ Cộng Hòa, đã chính thức cắt băng khánh thành vào ngày 1/10/1959. Trongsuốt gần 50 năm hoạt động giải trí, công ty đã phải trải qua khá nhiều khó khăn vất vả và thử thách. Đólà những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 thế kỷ 20, kinh tế thị trường đã thay thếcho kinh tế tài chính bao cấp, mẫu sản phẩm của Hồng Hà không còn là độc quyền, thế cho nên để tồn tạiđược công ty phải hoàn thành xong mẫu sản phẩm, mê hoặc từ vỏ hộp, mẫu mã, chất lượng đến giá cảphải chăng. Nhưng phải mất 10 năm, từ 1987 đến 1997 thì công ty mới bước vào giai đoạncất cánh, nhờ việc đổi khác tư duy trong việc quản trị công ty, cơ cấu tổ chức lại mẫu sản phẩm một cáchkhoa học và đúng đắn, nghiên cứu và điều tra nhiều yếu tố khác chứ không chỉ mỗi việc hoàn thiệnsản phẩm, như nhu yếu người mua, đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu, dự báo tương lai … Ngoài ra công tycòn vận dụng dây chuyền sản xuất sản xuất văn minh và xác lập rõ tầm quan trọng của chiến lượcphát triển tên thương hiệu, nhờ đó mà loại sản phẩm của Hồng Hà đã nhận được chứng từ ISO9001 000 và được sự tin yêu của rất nhiều người tiêu dùng. 3. Quan niệm nỗ lực thương mạiQuan niệm tăng cường nỗ lực thương mại nhấn mạnh vấn đề rằng người tiêu dùng sẽ khôngmua một khối lượng sản phẩm & hàng hóa lớn của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không có những nỗlực trong các nghành nghề dịch vụ tiêu thụ và khuyến mại. Quan niệm này yên cầu các nhà quản trị Marketing phải góp vốn đầu tư nhiều hơn vào khâutiêu thụ và khuyến mại, bởi lẽ người tiêu dùng còn tỏ ra ngần ngại trong việc mua hàng. Cónhiều cách để vận dụng quan điểm này như phong cách thiết kế các shop văn minh, huấn luyện và đào tạo độingũ bán hàng chuyên nghiệp biết thuyết phục đặc biệt quan trọng là phương pháp ảnh hưởng tác động vào tâm lýkhách hàng. Quan điểm này được vận dụng đặc biệt quan trọng thích hợp với những thứ hàng có nhu cầuthụ động tức là những thứ hàng mà người mua thường không nghĩ đến chuyện mua sắmnó. Các doanh nghiệp này sẽ vận dụng nhiều giải pháp bán hàng khác nhau để phát hiệnnhững người mua tiềm ẩn rồi khởi đầu nài ép để bán hàng cho họ bằng cách thuyết phục vềnhững quyền lợi của loại sản phẩm. Phương pháp bán hàng nài ép cũng được vận dụng so với những thứ hàng có nhucầu cần dữ thế chủ động, khi người mua đã thích mẫu sản phẩm nhưng còn đắn đo về giá thành thì ngườibán hàng hoàn toàn có thể thương lượng và giảm giá cho người mua. Tuy nhiên, Marketing dựa trêncơ sở bán hàng nài ép tiềm ẩn nhiều rủi ro đáng tiếc lớn. Vì điều tra và nghiên cứu cho thấy những kháchhàng không bị thuyết phục mua hàng và không hài lòng về một loại sản phẩm hoàn toàn có thể truyềntiếng xấu về mẫu sản phẩm và doanh nghiệp sản xuất loại sản phẩm đó cho từ mười người trở lên vàdanh tiếng của doanh nghiệp sẽ bị tổn hại. Quan điểm nỗ lực thương mại được vận dụng cả trong nghành phi thương mạinhư quyên góp quỹ, chiêu sinh vào các trường ĐH, hoạt động bầu cử … Trên quốc tế cũng như ở Nước Ta có khá nhiều doanh nghiệp vận dụng quan điểmnày. Công ty CP quốc tế số Trần Anh là một trong số những doanh nghiệp trẻ áp dụngquan điểm nỗ lực thương mại. Từ lúc xây dựng năm 2002 với tổng số nhân viên cấp dưới là 5 ngườilàm việc trong một shop có diện tích quy hoạnh trên 60 mét vuông, sau 7 năm hoạt động giải trí lúc bấy giờ công tyđã có tổng số trên 350 nhân viên cấp dưới với 2 khu vực kinh doanh thương mại có tổng diện tích quy hoạnh gần 7000 mét vuông. Gắn liền với sự hoạt động giải trí và tăng trưởng của Trần Anh là những sự kiện và chủ trương kinhdoanh mang tính nâng tầm, tiên phong trong nghành nghề dịch vụ kinh doanh thương mại máy vi tính như : “ bán giábán buôn đến tận nơi người tiêu dùng ”, “ chủ trương Bảo hành 1 đổi 1 trong vòng 6 tháng ”, “ Bảo hành cả trong trường hợp IC bị cháy nổ ”, “ chủ trương cam kết hoàn tiền khi có biếnđộng giá ” … Công ty còn có một đội ngũ nhân viên cấp dưới hùng hậu với trình độ trình độ cao ( hơn80 % đã tốt nghiệp Đại học, cao đẳng chuyên ngành kinh tế tài chính, kỹ thuật ), đủ năng lực để cóthế phân phối mọi nhu yếu khắc nghiệt nhất của người mua, đầy lòng nhiệt tình và có thái độniềm nở trong cung cách Giao hàng người mua. Công ty Trần Anh đồng cảm một điều : “ Khách hàng mới là người quyết định hành động tương lai, sự sống sót và tăng trưởng của Trần Anh ” vìvậy công ty luôn thao tác theo tâm lý : “ Hãy Giao hàng người mua như tất cả chúng ta đangphục vụ cho chính bản thân tất cả chúng ta ” và “ Lấy sự hài lòng của người mua làm niềm hạnhphúc của tất cả chúng ta ”. 4. Quan điểm MarketingQuan điểm Marketing nhấn mạnh vấn đề rằng điều kiện kèm theo tiên phong cần phải làm để đạt đượcmục tiêu của công ty là xác lập được nhu yếu và mong ước của thị trường tiềm năng vàtìm cách thỏa mãn nhu cầu chúng với những phương pháp có hiệu suất cao hơn các đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu. Quan điểm Marketing thường được bộc lộ qua những khẩu hiệu, phương châmhoạt động có doanh nghiệp, ví dụ : “ Khách hàng là thượng đế ” ; “ Uy tín quý hơn vàng ” ; “ Hãy yêu quý người mua chứ không phải là mẫu sản phẩm ” ; “ Hãy làm toàn bộ những gì mà sứcta hoàn toàn có thể để cho mỗi đồng USD của người mua được đền bù xứng danh bằng giá trị, chấtlượng và sự mãn nguyện ” … Quan điểm Marketing có nhiều sự tương phản với quan điểm nỗ lực thương mại. Quan điểm nỗ lực thương mại tập trung chuyên sâu vào nhu yếu của người bán trong khi quan điểmMarketing chú trọng nhu yếu của người mua. Quan điểm nỗ lực thương mại nhìn triểnvọng từ trong ra ngoài, từ nhà máy sản xuất, đến loại sản phẩm và việc tiêu thụ, khuyến mại để đảm bảolợi nhuận cho doanh nghiệp ; còn quan điểm Marketing nhìn triển vọng từ ngoài vào trong, từ thị trường đến nhu yếu của người mua, đến việc phối hợp các hoạt động giải trí tác động ảnh hưởng đếnnhu cầu người mua và tạo ra doanh thu trải qua việc thỏa mãn nhu cầu những nhu yếu đó. Quan điểm Marketing dựa trên bốn trụ cột chính là thị trường tiềm năng, nhu cầucủa người mua, marketing phối hợp và năng lực sinh lời. Thị trường mục tiêuKhông một doanh nghiệp nào hoàn toàn có thể hoạt động giải trí trên mọi thị trường và thỏa mãn nhu cầu đượcmọi nhu yếu. Các doanh nghiệp chỉ hoàn toàn có thể đạt được tác dụng tốt nhất khi họ xác lập mộtcách thận trọng thị trường tiềm năng của mình rồi chuẩn bị sẵn sàng một chương trình marketing phùhợp. Nhu cầu của khách hàngKhi đã xác lập được thị trường tiềm năng, doanh nghiệp phải khám phá nhu yếu củakhách hàng. Nhu cầu của người mua hoàn toàn có thể được chia thành năm loại : nhu yếu được nóira, nhu yếu trong thực tiễn, nhu yếu không nói ra, nhu yếu được thú vị, nhu yếu thầm kín. Một doanh nghiệp hoàn toàn có thể phân phối những yên cầu của khách bằng cách đưa cho họnhững gì họ muốn, hay họ cần và họ thực sự cần. Mỗi mức độ sau yên cầu phải thăm dòthấu đáo hơn mức trước, nhưng phải đem lại tác dụng là được nhiều người mua ưa thích. Marketing chuyên nghiệp chính là phải thỏa mãn nhu cầu nhu yếu trong thực tiễn của người mua tốt hơnđối thủ cạnh tranh đối đầu. ở đây người mua của doanh nghiệp gồm có cả người mua hiện thựcvà người mua tiềm năng. Việc giữ chân người mua hiện thực cũng quan trọng không kémviệc lôi cuốn người mua tiềm năng, đôi lúc còn quan trọng hơn cả. Một doanh nghiệp mưu trí còn phải tiếp tục định lượng mức độ thỏa mãncủa người mua bằng nhiều cách như phiếu thăm dò, hòm thư góp ý, khiếu nại … Marketing phối hợpThứ nhất là các công dụng Marketing phải được phối hợp với nhau. Thứ hai là Marketing phải được phối hợp ngặt nghèo với các bộ phận khác nhau trongcông ty. Vì vậy ý niệm Marketing yên cầu doanh nghiệp phải thực thi Marketing đối nộicũng như đối ngoại. Marketing đối nội là tuyển dụng, huấn luyện và đào tạo và động viên nhân viên cấp dưới. Trong trong thực tiễn Marketing đối nội phải đi trước Marketing đối ngoại. Khả năng sinh lờiMục đích của quan điểm Marketing là giúp tổ chức triển khai đạt được những tiềm năng đã đề ra, trường hợp với các doanh nghiệp thì tiềm năng là doanh thu, năng lực sinh lời. Có bao nhiêu công ty theo quan điểm Marketing trên quốc tế ? Có thể nói là rất nhiều, nhưng chỉ có một chút ít trong số những công ty đó vận dụng thành công xuất sắc ý niệm Marketing. ởViệt Nam thì hoàn toàn có thể kể ra Công ty Kinh Đô, Cà fê Tập Đoàn Cafe Trung Nguyên, Công ty sữa Vinamilk … Được xây dựng từ năm 1993, công ty Kinh Đô khởi đầu là phân xưởng sản xuất nhỏ tạiPhú Lâm, Q. 6 TP Hồ Chí Minh, có công dụng sản xuất và kinh doanh thương mại mẫu sản phẩm bánhSnack – một mẫu sản phẩm mới so với người tiêu dùng trong nước lúc bấy giờ. Việc sản xuấtvà tung ra loại sản phẩm Bánh Snack Kinh Đô với giá rẻ, mùi vị đặc trưng tương thích với thị hiếucủa người tiêu dùng đã trở thành bước đệm quan trọng cho sự tăng trưởng không ngừng củacông ty Kinh Đô sau này. Những năm sau đó, công ty liên tục góp vốn đầu tư vào dây chuyền sản xuất thiếtbị sản xuất, cho ra một loạt loại sản phẩm mới như bánh mì bông lan, kẹo Chocolate, bánhCracker, kẹo cứng, kẹo mềm … đây là các loại sản phẩm mang tính dinh dưỡng cao, vệ sinh vàgiá cả thích hợp cho nhiều những tầng lớp dân cư. Ngoài ra mạng lưới hệ thống Kinh Đô Bakery cũng lầnlượt sinh ra, là kênh bán hàng trực tiếp của công ty, với hàng trăm loại bánh kẹo và các sảnphẩm bánh tươi, với mẫu mã vỏ hộp hợp vệ sinh, thuận tiện và thích mắt, là nơi người mua cóthể đến lựa chọn một cách tự do và tự do. Cũng qua mạng lưới hệ thống này, công ty tiếp nhậnnhiều quan điểm góp phần cũng như phản hồi của người tiêu dùng, qua đó hoàn toàn có thể triển khai xong vàcải tiến loại sản phẩm, cung cách Giao hàng của mình nhiều hơn nhằm mục đích cung ứng nhu yếu ngàycàng cao của người tiêu dùng. Công ty luôn quyết tâm đẩy mạnh hơn nữa việc xuất khẩu ra thị trường Mỹ, Pháp, Canada, Đức, Đài Loan … Tìm thêm thị trường mới trải qua việc phát huy nội lực, nghiên cứu và điều tra thịtrường quốc tế, tham gia các hội chợ quốc tế về thực phẩm … Cải tiến chất lượng, khẩuvị, vỏ hộp mẫu mã tương thích với từng thị trường cũng như từng đối tượng người tiêu dùng người mua. Vớimục tiêu sở hữu thị trường trong nước, công ty Kinh Đô đã tăng trưởng mạng lưới hệ thống các nhàphân phối và đại lý phủ khắp 61 tỉnh thành, luôn luôn bảo vệ việc kinh doanh thương mại phân phốiđược thông suốt và kịp thời. 5. Quan niệm Marketing đạo đức xã hộiSự tăng trưởng của nền sản xuất tân tiến đã đặt cơ sở cho ý niệm này. Quan niệm Marketing đạo đức xã hội nhấn mạnh vấn đề rằng trách nhiệm của công ty là xác địnhnhu cầu, mong ước và quyền lợi của các thị trường tiềm năng và thỏa mãn nhu cầu chúng bằng nhữngphương thức hiệu suất cao, đồng thời phải có ảnh hưởng tác động vào nâng cao sự tăng trưởng cho ngườitiêu dùng và cho xã hội. Quan niệm này xuất phát từ sự hoài nghi đặc thù tương thích của ý niệm Marketing thuầntúy với những yếu tố phát sinh trong thời đại lúc bấy giờ như chất lượng môi trường tự nhiên sốngđang trở nên xấu hơn, tài nguyên vạn vật thiên nhiên hết sạch, dân số tăng nhanh … Bởi vậy tronghoạt động Marketing người ta muốn tìm thấy một sự link lâu dài hơn giữa người mua ,

Source: https://iseo1.com
Category: Marketing

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *